SuuTamCoVat.comSưu Tầm Cổ Vật
Hoa văn, điển tích và biểu tượng trên cổ vật

Tuế hàn tam hữu tùng trúc mai: nguồn gốc, cách vẽ trên đồ xưa và khác tứ quý ở đâu

Tuế hàn tam hữu là ba người bạn mùa giá rét: tùng, trúc, mai. Gốc từ câu Luận ngữ, định hình trong hội hoạ đời Tống và cách nhận ra bộ ba này trên gốm sứ, đồ gỗ.

Macro shot of a pine branch, bamboo leaves and plum blossoms painted in cobalt blue on the curved side of an old porcelain jar, cool morning light, shallow depth of field

Tuế hàn tam hữu nghĩa là "ba người bạn trong năm giá rét", gồm cây tùng, cây trúc và cây mai: tùng không rụng lá, trúc vẫn xanh, mai nở hoa giữa lúc trời lạnh nhất. Bộ ba này tượng trưng cho người quân tử giữ được khí tiết khi gặp cảnh khó, và là một trong những đề tài thực vật phổ biến nhất trên gốm sứ, đồ gỗ, tranh treo của vùng văn hoá Hán, trong đó có Việt Nam.

Người sưu tầm hay gặp ba cây này trên đồ sứ men lam, trên án thư, hoành phi, ống bút. Bài này giải thích gốc gác của ý niệm, cách bộ ba được bố cục trên đồ xưa, các biến thể thường gặp, và điểm khác giữa tam hữu với bộ tứ quý hay tứ quân tử mà người bán thường gọi lẫn.

Gốc của ý niệm: từ câu Luận ngữ đến hội hoạ đời Tống

Mầm của ý niệm nằm ở một câu trong sách Luận ngữ, thiên Tử Hãn: "Tuế hàn, nhiên hậu tri tùng bách chi hậu điêu dã", nghĩa là đến khi năm giá rét mới biết tùng bách là loài tàn úa sau cùng. Khổng Tử dùng cây tùng bách để nói về người giữ được phẩm cách khi thời thế xấu. Từ đây, tùng trở thành hình ảnh của lòng kiên định trong văn chương.

Trúc và mai được gắn thêm vào sau. Trúc rỗng ruột, có đốt, gió quật cong mà không gãy, được văn nhân ví với sự khiêm nhường và tiết tháo. Mai nở hoa khi cây khác còn trơ cành, được ví với tinh thần đi trước, chịu được lạnh lẽo. Việc gom ba loài thành một bộ "tam hữu" thường được các nhà nghiên cứu mỹ thuật gắn với giới văn nhân và hội hoạ đời Tống, khi tranh thuỷ mặc vẽ cây cỏ mang ý nghĩa nhân cách phát triển mạnh.

Từ tranh giấy lụa, đề tài đi vào đồ dùng. Trên đồ sứ men lam từ khoảng thời Nguyên, Minh, cảnh tùng trúc mai xuất hiện rất nhiều, có khi chiếm trọn thân lọ, có khi chỉ là một ô nhỏ. Ở Việt Nam, bộ ba gặp trên gốm hoa lam, trên đồ sứ đặt làm thời Nguyễn, trên gỗ chạm ở đình và nhà cổ, và trên tranh thờ, câu đối của các gia đình nho học.

Vì sao văn nhân chọn đúng ba loài cây này

Văn hoá Hán học có thói quen dùng cây cỏ để nói về con người. Một loài cây được chọn làm biểu tượng khi đặc điểm sinh học của nó trùng với một phẩm chất mà người có học coi trọng. Tùng sống lâu, chịu được đất cằn và gió lạnh, nên gắn với sự bền bỉ và tuổi thọ. Trúc mọc nhanh, thân thẳng, rỗng ruột, có đốt rõ, nên gắn với sự ngay thẳng, khiêm nhường và tiết tháo, vì chữ "tiết" cũng là chữ chỉ đốt tre.

Mai được coi trọng vì nở hoa khi tuyết chưa tan, mùi thơm nhẹ, cành khẳng khiu mà vẫn ra hoa. Trong thơ đời Tống, hoa mai là hình ảnh của người ẩn sĩ thanh cao, không chạy theo đám đông. Ghép ba loài lại, văn nhân có một hình ảnh trọn vẹn về người quân tử gặp lúc thời thế khó khăn: vẫn đứng vững như tùng, vẫn giữ mình như trúc, vẫn toả hương như mai.

Hiểu lớp nghĩa này giúp người sưu tầm đọc được không khí của món đồ. Một chiếc ống bút vẽ tam hữu đặt trên bàn của nhà nho không nói chuyện giàu sang hay may rủi; nó nói về cách chủ nhân muốn sống. Đó cũng là lý do đề tài này hiếm khi đi cùng các hình ảnh cầu tài lộc như hươu, dơi, cá chép, vốn thuộc một hệ ý nghĩa khác hẳn.

Đọc từng cây trên đồ xưa

Tùng. Thân xù xì, nhiều đốt mắt, cành vươn ngang, lá kim được vẽ thành từng chùm toả tròn như bánh xe hoặc như cái quạt nhỏ. Trên đồ sứ, chùm lá kim tròn là dấu hiệu dễ nhận nhất. Tùng già thường được vẽ vặn mình, rễ bám đá, gợi tuổi thọ và sự vững chãi.

Trúc. Thân thẳng chia đốt rõ, lá hẹp dài nhọn đầu, mọc thành nhóm ba bốn lá như chữ "cá" trong chữ Hán. Hoạ sĩ giỏi vẽ lá trúc có đậm nhạt, có lá ngửa lá úp để gợi gió. Trên đồ thô hơn, lá trúc là những nét chấm phẩy đều nhau, nhìn kỹ vẫn thấy nhịp ba lá.

Mai. Cành gầy, gấp khúc, hoa năm cánh tròn nở lác đác trên cành chưa có lá. Ở đồ sứ men lam, hoa mai hay được vẽ bằng vòng tròn trắng chừa men, viền lam bên ngoài. Cần phân biệt mai trong hội hoạ Hán (hoa mơ, thường màu trắng hoặc hồng) với cây mai vàng ngày Tết ở miền Nam Việt Nam, vốn là loài khác.

Đá và các chi tiết đi kèm. Bộ ba thường đứng cạnh một khối đá dáng thủng lỗ, vì đá cũng tượng trưng cho sự bền bỉ. Có khi có thêm chim khách trên cành mai, hoặc một ông già và tiểu đồng đứng ngắm. Những chi tiết thêm này biến bức tranh thành cảnh khác, nên khi ghi hồ sơ hãy mô tả đủ: "tùng trúc mai với đá", "tùng trúc mai có nhân vật".

Tam hữu, tứ quý và tứ quân tử: ba bộ hay bị gọi lẫn

Người bán và cả sách phổ thông thường dùng lẫn các tên gọi. Bảng sau giúp phân biệt theo cách dùng phổ biến trong mỹ thuật cổ.

BộThành phầnÝ chínhCách thường bố cục
Tuế hàn tam hữuTùng, trúc, maiKhí tiết trong cảnh khó, gắn với mùa đôngBa cây chung một khung cảnh, thường có đá
Tứ quân tửMai, lan, trúc, cúcBốn phẩm chất người quân tử, gắn với bốn mùaThường chia bốn ô hoặc bốn mặt, mỗi ô một loài
Tứ quý (cách gọi phổ biến ở Việt Nam)Thường là tùng, cúc, trúc, mai; có nơi dùng như tứ quân tửBốn mùa tuần hoàn, sự bền lâuBốn ô, bốn tấm, hoặc bộ tranh bốn bức

Điểm mấu chốt: tam hữu không có lan, không có cúc. Nếu thấy bốn loài chia ô thì đó không phải tam hữu, dù có tùng, trúc, mai trong đó. Vì cách gọi tứ quý ở Việt Nam không thống nhất, khi ghi hồ sơ món đồ nên liệt kê tên từng loài cây thay vì chỉ ghi tên bộ.

Tùng trúc mai trên gốm sứ: bố cục và nhịp vẽ

Trên thân lọ, bình hay chậu lớn, ba cây thường được vẽ liền một cảnh chạy vòng quanh: tùng đứng ở một phía, trúc ở giữa hoặc phía sau, mai vươn cành chéo sang. Người thợ phải tính để khi xoay món đồ, mỗi góc nhìn vẫn có một bố cục trọn vẹn. Đây là chỗ thấy rõ tay nghề: đồ tốt có khoảng trống thở, cành lá đan nhau mà không rối; đồ vẽ vội thì ba cây đứng thẳng hàng như cọc rào.

Trên bát đĩa, bộ ba hay được rút gọn trong lòng đĩa, hoặc tách ra thành ba ô quanh thành bát. Trên ấm chén uống trà, đề tài này rất hợp vì gắn với thú thanh nhàn của nhà nho. Có kiểu vẽ đặc biệt là tạo dáng chính món đồ thành thân cây: quai ấm uốn như cành mai, vòi như đốt trúc, nắp có núm hình quả tùng. Lối làm này cho thấy ý niệm tam hữu không chỉ nằm ở hình vẽ mà còn ở cả hình khối.

Màu sắc cũng là manh mối. Trên đồ men lam, cả ba cây cùng một màu lam, chỉ khác đậm nhạt. Trên đồ nhiều màu đời sau, tùng thường xanh lục, trúc lục nhạt, mai trắng hoặc hồng, có khi thêm lá vàng. Khi xem đồ nhiều màu, nên chú ý sự hài hoà giữa các lớp màu men, vì đây là chỗ đồ chép đời sau hay lộ: màu quá tươi, viền màu sắc nét như in.

Trên đồ gỗ, đồ đồng và trong không gian nhà Việt

Ở đồ gỗ chạm, tùng trúc mai gặp trên hoành phi, bức cốn, cửa võng, án thư và tủ chè. Gỗ không có màu nên người thợ phải phân biệt bằng nét chạm: lá kim của tùng thành chùm tia nhỏ, lá trúc dẹt và sắc, hoa mai là những khối tròn năm cánh nổi lên khỏi nền. Chạm lộng nhiều lớp cho phép cành mai vươn ra trước, tùng lùi về sau, tạo chiều sâu như tranh.

Trên đồ đồng, đề tài xuất hiện ở lư, đỉnh, khay, hộp, thường được đúc nổi hoặc chạm chìm. Vì đồng khó thể hiện chi tiết lá kim, bộ ba hay được giản lược thành vài nét đặc trưng. Ở đồ trang trí kiến trúc như bình phong, hồ cạn, cổng nhà thờ họ, bộ ba được đắp nổi bằng vữa hoặc ghép mảnh sành sứ, phổ biến ở Huế và Nam Bộ.

Trong không gian sống, đồ mang đề tài tam hữu thường đặt ở thư phòng, phòng khách, nơi chủ nhà tiếp bạn văn chương. Nó là lời tự giới thiệu kín đáo về lối sống. Khi trưng bày bộ sưu tập hôm nay, có thể gom các món cùng đề tài thành một nhóm để người xem thấy cùng một ý niệm được thể hiện qua nhiều chất liệu và nhiều thời kỳ khác nhau.

Những điều người sưu tầm hay hiểu sai về tam hữu

Ghi lại để tránh khi mô tả và khi nghe người khác giới thiệu món đồ.

  • "Cứ có tùng là tam hữu." Tùng đứng một mình hoặc đi với hạc là đề tài chúc thọ, khác ý nghĩa với tam hữu.
  • "Mai trong tranh là mai vàng." Mai trong hội hoạ Hán học là hoa mơ, khác loài với mai vàng Nam Bộ; gọi đúng giúp đọc đúng ý xưa.
  • "Tam hữu chỉ có trên đồ Trung Hoa." Đề tài này có mặt trên gốm, gỗ, đồ đồng của Việt Nam qua nhiều thời, với cách vẽ riêng.
  • "Vẽ tam hữu là để cầu điều gì." Theo cách hiểu của văn nhân xưa, đây là đề tài nhân cách và thẩm mỹ, không phải bùa chú hay lời cầu xin.
  • "Đề tài này cho biết niên đại." Tam hữu được vẽ suốt nhiều thế kỷ; niên đại phải đọc từ kỹ thuật, men, dáng, không từ đề tài.

Một mô tả chính xác và khiêm tốn trong phiếu bộ sưu tập luôn đáng tin hơn một câu chuyện hay nhưng không có căn cứ. Đó cũng là cách người chơi lâu năm phân biệt người có học với người chỉ nhắc lại lời người bán.

Câu hỏi thường gặp

Tùng và bách có phải một loài không?

Không hẳn. Trong văn chương, tùng bách thường đi đôi như một hình ảnh chung về cây thường xanh chịu lạnh. Trong thực vật học, đó là nhiều loài khác nhau. Trên đồ xưa, cây được vẽ chủ yếu theo quy ước hội hoạ, nên người xem gọi chung là tùng.

Vì sao tam hữu không có hoa lan và hoa cúc?

Vì ý niệm gắn với mùa đông giá rét. Lan và cúc thuộc bộ tứ quân tử, ứng với mùa xuân và mùa thu. Tam hữu chỉ chọn những loài vẫn xanh hoặc vẫn nở khi trời lạnh nhất, nên chỉ có tùng, trúc và mai.

Đồ vẽ tùng trúc mai có hợp làm quà tặng không?

Hợp với người trọng sự bền bỉ và khí tiết, như thầy cô, người lớn tuổi, bạn đồng nghiệp lâu năm. Nên kèm vài dòng giải thích ý nghĩa để món quà có câu chuyện, và nếu là đồ cổ thì kèm hồ sơ nguồn gốc rõ ràng.

Làm sao biết tranh tam hữu trên đồ sứ vẽ tay hay in dán?

Nhìn bằng kính lúp: nét vẽ tay có chỗ đậm nhạt, đầu nét và cuối nét khác nhau, màu loang nhẹ vào men. Hình in dán có chấm in đều hoặc mép hình sắc gọn, các món cùng bộ giống nhau gần như tuyệt đối.

Có nên ghép một bộ tam hữu từ ba món khác nhau không?

Có thể ghép khi trưng bày cho đẹp, nhưng trong hồ sơ phải ghi rõ là ba món riêng ghép lại. Khi truyền lại hay trao đổi, ghi chú này giúp người sau không nhầm đó là một bộ được làm cùng lúc.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.