SuuTamCoVat.comSưu Tầm Cổ Vật
Hoa văn, điển tích và biểu tượng trên cổ vật

Ngư tiều canh mục trên đồ xưa: bốn cảnh nghề, tích cổ đi kèm và cách đọc

Ngư tiều canh mục là bốn cảnh đánh cá, đốn củi, cày ruộng, chăn trâu trên đồ xưa. Phân biệt với ngư tiều canh độc của Trung Hoa, các tích gắn kèm và cách đọc.

Wide view of an old carved wooden panel in a village communal house showing tiny figures fishing, carrying firewood, ploughing with a buffalo, warm dusty light through a doorway

Ngư tiều canh mục là bộ bốn cảnh nghề: ngư là đánh cá, tiều là đốn củi, canh là cày ruộng, mục là chăn trâu. Bộ cảnh này có mặt trên đồ gỗ chạm ở đình làng, đồ sơn mài, đồ sứ và tranh treo, mang ý ca ngợi đời sống thôn dã giản dị, gần với thiên nhiên. Trong truyền thống Trung Hoa, bộ cảnh quen thuộc là ngư tiều canh độc, tức thay chăn trâu bằng đọc sách, và mỗi cảnh thường gắn với một nhân vật trong sử sách.

Người sưu tầm hay gặp các cảnh này mà không để ý, vì chúng trông như cảnh sinh hoạt bình thường. Bài này giải thích nguồn gốc ý niệm, các tích hay gắn với từng nghề, sự khác nhau giữa bộ cảnh kiểu Việt và kiểu Trung Hoa, cách đọc bố cục trên từng chất liệu, và những điều cần thận trọng khi đặt tên cho cảnh.

Vì sao người có học lại vẽ người làm nghề

Thoạt nhìn, thật lạ khi đồ dùng của tầng lớp có học lại vẽ người đánh cá, người kiếm củi. Lý do nằm ở lý tưởng ẩn dật trong văn hoá Hán học: nhiều nhà nho coi cuộc sống thôn dã là nơi giữ được nhân cách, tránh xa vòng danh lợi. Người đánh cá, người kiếm củi trong thơ văn thường không phải người lao động thật mà là hình ảnh của bậc hiền giả ẩn mình.

Trong thơ văn, hình ảnh "ngư tiều" thường xuất hiện như những người hiểu đời, nói chuyện thế sự bằng giọng thản nhiên. Ở Việt Nam, Nguyễn Đình Chiểu viết tác phẩm "Ngư Tiều y thuật vấn đáp" dưới dạng cuộc trò chuyện giữa người đánh cá và người kiếm củi đi học thuốc, cho thấy cặp nhân vật này đã quen thuộc với người đọc Việt đến mức nào.

Mặt khác, với cộng đồng làng xã, các cảnh cày cấy, chăn trâu là đời sống thường ngày, là nguồn sống. Chạm cảnh ấy lên đình làng là cách ghi lại và tôn vinh công việc của chính mình. Vì vậy, cùng một bộ cảnh mà có hai giọng: giọng ẩn dật của nhà nho và giọng đời thường của làng quê, người xem cần nhận ra món đồ thuộc giọng nào.

Ngư tiều canh mục và ngư tiều canh độc

Hai bộ cảnh giống nhau ở ba nghề đầu, khác ở nghề thứ tư. Bảng sau tóm lược sự khác biệt và các nhân vật hay được gắn với từng cảnh theo truyền thống.

CảnhNghềNhân vật hay được gắn (theo truyền thống Trung Hoa)Chi tiết nhận ra
NgưĐánh cáNghiêm Tử Lăng, bạn học của Hán Quang Vũ, từ chối làm quan về câu cáNgười ngồi câu, thuyền nhỏ, nón lá, cần câu
TiềuĐốn củiChu Mãi Thần, người nghèo vừa gánh củi vừa đọc sáchNgười gánh bó củi, cầm rìu, đi đường núi
CanhCày ruộngVua Thuấn cày ruộng ở núi Lịch, có voi kéo cày, chim nhặt cỏNgười đi sau trâu hoặc voi kéo cày
Độc (Trung Hoa)Đọc sáchTô Tần dùi mài kinh sửNgười cầm sách, có khi ngồi dưới đèn
Mục (thường gặp ở Việt Nam)Chăn trâuKhông gắn cố định với nhân vật nàoTrẻ cưỡi trâu, thổi sáo, thả diều

Việc gắn nhân vật vào cảnh là quy ước của truyền thống văn hoá Trung Hoa; trên đồ Việt, nhất là đồ dân gian, các cảnh thường chỉ là cảnh nghề không gắn với nhân vật nào. Khi ghi hồ sơ, chỉ ghi tên nhân vật khi có câu thơ hoặc chi tiết xác nhận.

Câu chuyện phía sau các nhân vật

Nghiêm Tử Lăng. Nghiêm Quang, tự Tử Lăng, là bạn học của Lưu Tú. Khi Lưu Tú lên ngôi thành Hán Quang Vũ Đế, ông được mời ra làm quan nhưng từ chối, về sống ẩn và câu cá. Hình ảnh ông trở thành biểu tượng của kẻ sĩ không ham quyền quý, khác với Lã Vọng câu cá chờ thời.

Chu Mãi Thần. Người nước Ngô thời Tây Hán, nhà nghèo, kiếm củi bán, vừa gánh củi vừa đọc sách. Vợ chê nghèo bỏ đi; về sau ông được bổ làm quan. Đời sau thêm giai thoại người vợ xin quay về và ông hắt chậu nước xuống đất, bảo hốt lại được thì về, để nói việc đã qua không lấy lại được. Giai thoại này còn được gắn với nhân vật khác, nên chỉ nên coi là truyện kể.

Vua Thuấn. Theo truyện cổ, Thuấn hiếu thảo với cha mẹ dù bị đối xử tệ, khi cày ruộng ở núi Lịch thì voi đến kéo cày, chim đến nhặt cỏ. Câu chuyện có trong bộ Nhị thập tứ hiếu. Cảnh cày ruộng có voi là dấu hiệu nhận ra tích này, khác với cảnh cày trâu thông thường.

Tô Tần. Nhà du thuyết thời Chiến Quốc, theo truyện kể từng dùi vào đùi để chống buồn ngủ khi học. Cảnh đọc sách gắn với ý chí học tập, thường vẽ người ngồi bên bàn sách, có khi trong lều tranh.

Trên đình làng và đồ gỗ Việt: cảnh nghề mang hơi thở làng quê

Ở các ngôi đình thế kỷ XVII – XVIII ở Bắc Bộ, nghệ nhân chạm nhiều cảnh sinh hoạt: đánh cá, kéo gỗ, cày bừa, chăn trâu, cùng với cảnh vui chơi như đánh cờ, uống rượu, đấu vật. Những cảnh này không nhất thiết được tổ chức thành bộ bốn, mà rải trên các bức cốn, đầu dư, ván nong. Chúng là tư liệu quý về đời sống làng xã xưa, giúp người hôm nay hình dung trang phục, công cụ, cách làm việc.

Cảnh nghề trên đình làng mang giọng đời thường rõ rệt: người đánh cá ngồi trên thuyền nan, người cày đi sau con trâu, trẻ chăn trâu nằm trên lưng trâu. Không có dáng ẩn sĩ, không có nhân vật lịch sử. Gọi chúng là "Nghiêm Tử Lăng", "Chu Mãi Thần" là áp đặt khung đọc của văn hoá nho học lên một tác phẩm dân gian.

Ở đồ gỗ trong nhà như tủ chè, sập, hoành phi của các gia đình khá giả cuối thế kỷ XIX – đầu XX, bộ ngư tiều canh mục hay được chạm thành bốn ô, mỗi ô một cảnh, có khi đi kèm câu đối. Ở đây giọng ẩn dật và giọng đời thường hoà vào nhau: cảnh vẽ theo đời sống làng quê nhưng ý nghĩa gắn với lý tưởng an nhàn của chủ nhà.

Trên đồ sứ, đồ sơn mài và tranh

Trên đồ sứ đặt làm thời Nguyễn, các cảnh ngư, tiều xuất hiện thường xuyên, thường là một người câu cá trên thuyền nhỏ hay một người gánh củi đi trên đường núi, kèm một câu thơ chữ Hán. Câu thơ quyết định món đồ đang nói về ai: một câu nhắc sông Phú Xuân sẽ gợi Nghiêm Tử Lăng, một câu về núi Lịch sẽ gợi vua Thuấn. Không có thơ, cảnh nên được mô tả theo nghề.

Sơn mài Việt Nam thế kỷ XX tiếp tục đề tài cảnh nghề nông thôn với tinh thần mới: cảnh cấy lúa, chăn trâu, đánh cá được vẽ như chính đời sống quê hương, không còn gắn với điển tích. Những tác phẩm này thuộc nhóm mỹ thuật hiện đại, có giá trị riêng, và câu chuyện của chúng là câu chuyện của các hoạ sĩ, các xưởng sơn mài chứ không phải của điển tích.

Tranh dân gian cũng có nhiều cảnh nghề, như cảnh chăn trâu thổi sáo, cảnh đánh ghen hay hứng dừa, mang tinh thần vui tươi, hài hước. Người sưu tầm nên tách rạch ròi các truyền thống: điển tích nho học, đời sống làng xã, mỹ thuật hiện đại. Mỗi truyền thống có cách đọc và cách định giá trị khác nhau.

Những cảnh hay bị nhầm với bộ ngư tiều canh mục

Cảnh Lã Vọng câu cá. Một ông già câu cá đơn lẻ, ngồi trang trọng bên sông, có đoàn người ngựa tìm đến, thuộc tích cầu hiền chứ không phải cảnh ngư trong bộ bốn nghề. Nếu món đồ chỉ có một cảnh câu cá, đừng vội xếp vào bộ ngư tiều canh mục.

Cảnh Sào Phủ dắt trâu. Người lớn tuổi dắt trâu đi ngược dòng suối là tích ẩn dật, khác với trẻ chăn trâu trong cảnh mục. Dáng người, tuổi tác và hướng đi của con trâu là những chi tiết giúp phân biệt.

Cảnh hái thuốc, cảnh tiều phu gặp tiên. Người lên núi hái thuốc hay tiều phu ngồi xem tiên đánh cờ là những đề tài riêng, gắn với truyện kể về thời gian trên núi tiên khác với trần gian. Người kiếm củi ngồi xem hai người đánh cờ dưới gốc cây là dấu hiệu của nhóm truyện này, không phải cảnh tiều thông thường.

Cảnh sinh hoạt làng quê hiện đại. Tranh, đồ sơn mài, đồ gốm mỹ nghệ thế kỷ XX – XXI vẽ cảnh cấy cày, chăn trâu theo tinh thần quê hương, không mang ý nghĩa điển tích. Gọi chúng là ngư tiều canh mục cũng được theo nghĩa rộng, nhưng không nên gán thêm nhân vật lịch sử.

Đọc một cảnh nghề trên đồ xưa

Khi gặp một cảnh người làm nghề, đi theo các bước sau để mô tả đúng mực.

  1. Xác định nghề. Đánh cá, đốn củi, cày ruộng, chăn trâu hay đọc sách; nhìn công cụ trong tay và bối cảnh.
  2. Xem có thuộc một bộ không. Đếm các ô xung quanh, xem có đủ bốn nghề hay có cảnh đọc sách thay chăn trâu.
  3. Tìm dấu hiệu điển tích. Voi kéo cày, người gánh củi tay cầm sách, ông già câu cá áo mũ nho sĩ là những chi tiết gợi tích cụ thể.
  4. Đọc chữ đi kèm. Thơ, câu đối, lạc khoản thường gọi đúng tên nhân vật; nhờ người đọc Hán Nôm khi cần.
  5. Xác định giọng. Ẩn dật nho học, đời sống làng xã hay mỹ thuật hiện đại, ghi rõ trong hồ sơ.

Năm bước này giúp tránh hai thái cực: biến mọi cảnh nghề thành điển tích, hoặc bỏ qua điển tích khi nó thật sự có mặt. Cả hai đều làm nghèo đi câu chuyện của món đồ.

Câu hỏi thường gặp

Ngư tiều canh mục và tứ dân có giống nhau không?

Không. Tứ dân là sĩ, nông, công, thương, bốn tầng lớp trong xã hội xưa. Ngư tiều canh mục là bốn cảnh nghề thôn dã, mang ý ca ngợi đời sống giản dị. Hai bộ có thể cùng xuất hiện trên đồ trang trí nhưng ý nghĩa khác nhau.

Vì sao Việt Nam hay dùng "mục" thay cho "độc"?

Có lẽ vì cảnh chăn trâu gần gũi với đời sống nông thôn Việt hơn, và hình ảnh trẻ chăn trâu thổi sáo rất quen thuộc trong văn hoá dân gian. Đây là cách giải thích phổ biến, không có văn bản quy định nào về việc chọn bộ cảnh.

Cảnh câu cá là Nghiêm Tử Lăng hay Lã Vọng?

Cả hai đều câu cá nhưng ý nghĩa ngược nhau: Lã Vọng chờ thời ra giúp nước, Nghiêm Tử Lăng từ chối làm quan. Không có chữ đi kèm thì rất khó phân biệt; khi đó nên mô tả là cảnh ngư ẩn và ghi chú hai khả năng.

Tranh sơn mài cảnh nông thôn có được xem là đồ cổ không?

Tuỳ niên đại và tác giả. Sơn mài thế kỷ XX là mỹ thuật hiện đại, có giá trị nghệ thuật riêng. Việc có được coi là cổ vật theo luật hay không phụ thuộc vào tiêu chí pháp lý về tuổi và giá trị, cần hỏi cơ quan chuyên môn.

Có nên sưu tầm theo chủ đề ngư tiều canh mục không?

Đó là một hướng sưu tầm thú vị vì đề tài trải qua nhiều chất liệu và nhiều thời kỳ: gỗ chạm, sứ, sơn mài, tranh. Gom theo chủ đề giúp bộ sưu tập kể được câu chuyện về cách người Việt nhìn đời sống thôn dã qua các thời.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.