SuuTamCoVat.comSưu Tầm Cổ Vật
Hoa văn, điển tích và biểu tượng trên cổ vật

Đọc hình rồng trên cổ vật Việt: gạch ngói, gốm, đồ đồng và những bản chép đời sau

Cách người sưu tầm đọc một hình rồng trên hiện vật: xem thân, đầu, móng, mây lửa đi kèm, chất liệu và nét tay thợ, rồi nhận ra mẫu rồng chép lại ở đồ đời sau.

Top-down view of several old ceramic shards with fragments of painted dragons laid on a linen cloth beside a magnifying glass and cotton gloves, warm lamp light

Đọc một hình rồng trên cổ vật là xem cùng lúc năm thứ: dáng thân, cấu tạo đầu, chân và móng, các hoạ tiết đi kèm như mây, lửa, ngọc, sóng, và cách tay thợ thể hiện trên chất liệu đó. Khi năm thứ ấy cùng nói về một thời, hình rồng là một chứng cứ có giá trị; khi chúng "cãi nhau", đó là lúc phải dè chừng.

Bài trước về hình tượng rồng qua các triều đại đã tóm lược phong cách của từng thời. Bài này đi theo hướng thực hành của người cầm hiện vật trong tay: rồng trên gạch, ngói, đất nung; rồng vẽ trên gốm; rồng đúc và chạm trên đồ đồng; và vì sao mẫu rồng đời trước được chép lại liên tục, khiến việc xác định niên đại bằng hình rồng dễ sai.

Năm điểm cần xem trên một hình rồng

Dáng thân. Thân rồng mảnh hay mập, uốn nhiều khúc đều hay ít khúc mạnh, thắt nhỏ dần về đuôi hay to đều. Đây là đặc điểm cấu trúc, ít bị thợ đời sau để ý khi chép, nên thường lộ phong cách thật của người làm.

Cấu tạo đầu. Có sừng hay không, mào lửa dài hay ngắn, mũi vòi hay mũi sư tử, mắt tròn hay lồi, miệng há ngậm ngọc hay nhe răng. Đầu rồng là chỗ người làm giả chăm chút nhất, nên đừng dựa vào đầu rồng một mình.

Chân và móng. Số móng, độ to của chân, tư thế bám hay vờn. Số móng nói về cấp bậc sử dụng hơn là niên đại, nhưng chân mảnh hay to khoẻ lại gắn với phong cách thời.

Hoạ tiết đi kèm. Mây hình gì, lửa vẽ thế nào, có ngọc, có sóng nước hay không. Các hoạ tiết phụ này đổi theo thời và theo lò, và thường bị chép kém cẩn thận hơn con rồng chính, nên là chỗ dễ phát hiện lệch phong cách.

Nét tay thợ. Nét vẽ nhanh hay chậm, đường khắc sâu hay nông, đều hay biến hoá. Nét tay mang dấu ấn của cả một thế hệ thợ, khó bắt chước một cách tự nhiên.

Rồng trên gạch, ngói và đất nung kiến trúc

Vật liệu kiến trúc đất nung là nhóm hiện vật mang hình rồng sớm và phong phú bậc nhất ở Việt Nam: gạch in hình rồng, đầu ngói, lá đề trang trí bờ nóc, đầu kìm. Hình rồng trên đó thường được tạo bằng khuôn in rồi sửa thêm bằng tay, nên nhiều viên gạch, nhiều đầu ngói có hình gần như giống nhau. Điều này khác với đồ gốm vẽ tay, nơi mỗi con rồng mỗi khác.

Khi xem rồng trên đất nung, nên chú ý độ sắc của nét in: lần in đầu tiên từ khuôn mới thường sắc nét, những lần in sau nét mờ dần. Mép hình có dấu bàn tay sửa, có vết dao gọt, mặt sau có dấu vải lót hoặc dấu tay thợ. Bề mặt đất nung qua nhiều thế kỷ dưới lòng đất có lớp bám, vết ăn mòn ở chỗ lồi, độ mòn tự nhiên không đều.

Cần nói rõ: gạch, ngói, vật liệu kiến trúc khai quật từ di chỉ là hiện vật khảo cổ thuộc quản lý nhà nước. Người sưu tầm có thể học rất nhiều từ các hiện vật này ở bảo tàng và trong các sách báo cáo khai quật, nhưng không nên mua những viên gạch, mảnh ngói được rao là "đào ở hoàng thành" hay "lấy từ chùa cổ". Lời rao càng hấp dẫn, nguy cơ đó là đồ đào trộm hoặc đồ giả càng cao.

Rồng vẽ trên gốm: men lam, men nâu và men màu

Trên gốm, rồng được vẽ bằng bút lông với màu lam (côban), màu nâu (sắt) hoặc nhiều màu ở đồ đời sau. Vẽ dưới men nghĩa là hình được vẽ lên xương gốm trước khi tráng men và nung; khi nung, màu hoà vào lớp men, có chỗ loang, chỗ đọng. Đồ cổ thật có độ loang tự nhiên ấy; hình vẽ quá sắc, màu đều như in là điều cần xem kỹ.

Rồng trên gốm hoa lam Việt Nam thế kỷ XV – XVI thường được vẽ nhanh tay, thân uốn khoáng đạt, vảy chấm hoặc vảy lưới, mây hình nấm hay hình dải. Rồng trên gốm hoa nâu thời Trần thường được khắc vạch rồi tô màu nâu vào nền, tạo hình rồng màu ngà nổi trên nền nâu hoặc ngược lại. Rồng trên đồ sứ đặt làm thời Nguyễn thường nhỏ, cầu kỳ, có khi chỉ là chi tiết trong một ô trang trí.

Một mẹo của người chơi lâu năm: xem phần đuôi và chân rồng trước khi xem đầu. Người làm giả thường dồn sức vào đầu rồng cho "đúng mẫu", còn đuôi, chân, vây lưng lại vẽ theo thói quen của thời mình. Một con rồng đầu kiểu thế kỷ XV mà vây lưng, mây lửa kiểu thế kỷ XIX là dấu hiệu rõ của đồ chép.

Rồng đúc và chạm trên đồ đồng

Trên đồ đồng, rồng xuất hiện ở lư hương, đỉnh, chuông, khánh, ấn, khay, chân nến. Có ba cách tạo hình chính: đúc nổi ngay từ khuôn, chạm khắc thêm sau khi đúc, và đắp ghép các chi tiết đúc riêng như quai, núm. Mỗi cách để lại dấu vết riêng: hình đúc có bề mặt hơi xốp và cạnh mềm, hình chạm có vết đục sắc và đáy rãnh có vết công cụ.

Rồng trên chuông đồng, khánh đồng ở đình chùa thường là dạng quai treo hình rồng hai đầu (bồ lao theo cách gọi Hán Việt) hoặc dải rồng quanh thân. Rồng trên ấn đồng triều Nguyễn thường là núm hình rồng cuộn, được làm rất công phu. Đây là những nhóm hiện vật mà phần lớn bản gốc nằm trong bảo tàng hoặc di tích; những món mang hình rồng cung đình xuất hiện trôi nổi cần được hết sức thận trọng.

Đồ đồng mỹ nghệ làm mới theo mẫu rồng cổ rất nhiều, đẹp và có giá trị riêng như đồ trang trí. Chúng chỉ trở thành vấn đề khi bị gán tuổi. Patina tạo bằng hoá chất, hoa văn đúc khuôn hiện đại quá đều và sắc là những dấu hiệu đầu tiên; xác định chắc chắn thì cần người có chuyên môn và có khi cần phân tích hợp kim.

Rồng trên gỗ chạm và đồ sơn son thếp vàng

Gỗ là chất liệu cho phép hình rồng có chiều sâu nhất: chạm nổi, chạm lộng nhiều lớp, rồng lượn qua mây, vờn quanh cột, ẩn hiện sau lá. Trên hoành phi, cửa võng, án gian, ngai, kiệu, rồng thường được sơn son thếp vàng. Khi xem, hãy nhìn vào đáy rãnh chạm: chạm cũ có đáy rãnh mòn đều, bám bụi lâu năm, cạnh nét đã tù; chạm thêm hay chạm mới có đáy rãnh sạch, cạnh sắc, đôi khi còn vết máy.

Lớp sơn và vàng cũng kể chuyện. Đồ thật qua nhiều đời thường được sơn thếp lại, nên có thể thấy nhiều lớp chồng lên nhau ở chỗ bong tróc. Lớp sơn ta cũ có độ rạn, độ ngả màu riêng; sơn công nghiệp mới bóng đều, bám thành lớp dày, mùi khác. Một món đồ gỗ chạm rồng được sơn thếp lại toàn bộ không mất giá trị lịch sử, nhưng cần được ghi chú trong hồ sơ để người sau biết đâu là lớp gốc.

Đồ gỗ chạm rồng gắn với đình, chùa, nhà thờ họ có câu chuyện nguồn gốc phức tạp. Những món từng thuộc di tích, từng là đồ thờ của cộng đồng, nếu bị tháo ra và rao bán thì người mua có thể gặp rắc rối pháp lý và đạo lý. Hỏi kỹ món đồ đến từ đâu là bước đầu tiên trước khi nghĩ đến chuyện rồng đẹp hay xấu.

Vì sao mẫu rồng bị chép lại liên tục

Người sưu tầm cần hiểu rằng việc chép mẫu không chỉ đến từ người làm giả hiện đại mà là một truyền thống lâu đời.

  • Phỏng cổ trong cung đình. Nhiều triều đại cho làm đồ theo mẫu thời trước để tỏ lòng tôn kính, ví dụ đồ sứ thời Thanh phỏng đồ thời Minh. Những món phỏng cổ này có giá trị riêng nhưng không phải đồ của thời được chép.
  • Khuôn mẫu truyền đời ở lò và làng nghề. Các lò gốm, làng đúc đồng giữ mẫu qua nhiều thế hệ, nên một kiểu rồng có thể được làm suốt hàng trăm năm.
  • Trùng tu kiến trúc. Khi thay vật liệu hỏng ở đình chùa, thợ làm theo mẫu cũ; những mảnh thay thế này sau đó có thể trôi ra thị trường.
  • Đồ mỹ nghệ hiện đại. Làm theo mẫu rồng Lý, rồng Lê để bán làm quà, đồ trang trí, hoàn toàn hợp pháp nếu được gọi đúng tên.
  • Đồ giả cổ có chủ đích. Chép mẫu và làm cũ để bán như đồ cổ thật, nhóm duy nhất mang ý gian lận.

Vì vậy, khi thấy một con rồng "đúng kiểu Lý", câu hỏi đúng không phải "đây có phải đồ thời Lý không" mà là "chất liệu, kỹ thuật, dấu dùng có cùng nói về thời Lý không". Chỉ khi mọi chứng cứ đồng thuận mới nên ghi niên đại vào hồ sơ món đồ.

Ghi chép hình rồng vào hồ sơ bộ sưu tập

Một mô tả hình rồng tốt giúp bạn so sánh các món trong bộ sưu tập và giúp người giám định làm việc nhanh hơn.

  1. Chụp ảnh toàn thể hình rồng và ảnh cận đầu, chân, đuôi, hoạ tiết đi kèm, dưới ánh sáng đều.
  2. Mô tả thân: số khúc uốn, độ thon, kiểu vảy, có vây lưng hay không.
  3. Mô tả đầu: sừng, mào, mũi, mắt, miệng, có ngọc hay không.
  4. Ghi số móng ở từng chân nhìn thấy được, kèm ghi chú nếu bị che hoặc mờ.
  5. Ghi cách tạo hình: vẽ dưới men, khắc, in khuôn, đúc, chạm, đắp.
  6. Ghi nhận định phong cách kèm mức chắc chắn, tách riêng với nhận định niên đại của cả món đồ.

Tách "phong cách rồng" với "niên đại món đồ" trong hồ sơ là thói quen nhỏ nhưng giúp bạn và người sau không nhầm một mẫu rồng đời trước được chép lại với một hiện vật đời trước.

Câu hỏi thường gặp

Một con rồng vẽ đẹp có làm món đồ quý hơn không?

Về thẩm mỹ thì có, vì nét vẽ tốt cho thấy tay nghề và đơn đặt hàng cao. Nhưng giá trị lịch sử của món đồ phụ thuộc vào niên đại thật, nguồn gốc và tình trạng, không chỉ ở vẻ đẹp của hình rồng.

Gạch in hình rồng bán ở chợ đồ cũ có đáng tin không?

Nên hết sức dè chừng. Gạch rồng thật thời Lý – Trần gần như đều là hiện vật khảo cổ thuộc quản lý nhà nước. Gạch rao là đào từ di tích có nguy cơ là đồ đào trộm hoặc đồ làm giả, cả hai trường hợp đều không nên mua.

Rồng hai đầu trên quai chuông gọi là gì?

Trong cách gọi Hán Việt, con vật trên quai chuông thường được gọi là bồ lao, một trong những con của rồng theo truyền thuyết. Ở chuông Việt, quai thường là hai đầu rồng quay lưng vào nhau, thân nối thành vòng treo.

Có cách nào phân biệt hình rồng vẽ tay với hình in dán không?

Có. Nhìn bằng kính lúp, nét vẽ tay có đầu nét, cuối nét và chỗ đậm nhạt; màu loang vào men. Hình in dán có chấm in đều hoặc viền sắc, và các món cùng loại giống nhau tuyệt đối.

Nên học phong cách rồng từ sách hay từ hiện vật?

Cả hai. Sách chuyên khảo cho khung kiến thức và ảnh có chú thích; hiện vật thật ở bảo tàng cho cảm giác về kích thước, chất liệu, độ sâu nét. Xem hiện vật sau khi đọc sách giúp nhớ lâu và nhìn ra chi tiết.

Rồng trên đồ xuất khẩu có khác rồng trên đồ dùng trong nước không?

Thường có. Đồ làm cho thị trường xa hay vẽ theo thị hiếu người mua, có khi đơn giản hoá hoặc phóng khoáng hơn. Vì vậy khi so sánh nên đặt cạnh hiện vật cùng dòng, cùng thị trường tiêu thụ.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.