Long Tuyền là tên một vùng ở tây nam tỉnh Chiết Giang, Trung Hoa, nơi hình thành trung tâm sản xuất gốm men ngọc lớn nhất và kéo dài nhất trong lịch sử, hoạt động mạnh từ Bắc Tống, đạt độ tinh xảo dưới Nam Tống và sản xuất ồ ạt cho xuất khẩu dưới thời Nguyên, đầu Minh. Đặc trưng của men ngọc Long Tuyền là lớp men dày, phủ nhiều lần, màu xanh mờ đục như ngọc với hai sắc được ca ngợi nhất là phấn thanh và mai tử thanh.
Long Tuyền quan trọng với người sưu tầm ở hai lẽ. Thứ nhất, nó là chuẩn mực mà nhiều lò men ngọc ở châu Á từng nhìn vào. Thứ hai, đồ Long Tuyền theo tàu buôn đi khắp châu Á, châu Phi, Trung Đông, nên xuất hiện trong rất nhiều sưu tập và nhiều di chỉ, kể cả ở Việt Nam. Năm 2009, kỹ thuật nung gốm men ngọc truyền thống Long Tuyền được UNESCO ghi vào danh sách di sản văn hoá phi vật thể.
Vùng lò và một truyền thuyết về hai anh em
Các lò Long Tuyền nằm rải rác trong một vùng đồi núi có nhiều đất sét, đá men và củi, men theo sông suối thuận cho việc chở hàng xuống bờ biển Chiết Giang, Phúc Kiến. Khảo cổ học đã ghi nhận hàng trăm điểm lò cổ trong vùng, phần lớn là lò rồng, loại lò dài chạy dọc sườn đồi, có thể nung một lượng đồ rất lớn trong một mẻ.
Gắn với Long Tuyền là truyền thuyết về hai anh em họ Chương thời Tống. Người anh làm đồ men rạn, gọi là Ca diêu (lò người anh); người em làm đồ men ngọc không rạn, gọi là Đệ diêu (lò người em). Đệ diêu thường được hiểu là dòng Long Tuyền chính thống. Còn Ca diêu là một trong những đề tài tranh luận lớn nhất của ngành gốm sứ học Trung Hoa: nó ở đâu, thời nào, có trùng với một dòng lò khác hay không, đến nay vẫn chưa có kết luận thống nhất.
Với người sưu tầm, bài học từ truyền thuyết này là phân biệt câu chuyện và chứng cứ. Câu chuyện giúp nhớ, nhưng những gì chắc chắn về Long Tuyền đến từ khảo cổ học lò và từ hiện vật có niên đại rõ.
Kỹ thuật men dày nhiều lớp
Xương mỏng, men dày. Đồ Long Tuyền đẹp thời Nam Tống thường có xương mỏng và lớp men dày, có khi lớp men còn dày hơn xương ở một số chỗ. Muốn vậy, người thợ phải nhúng men nhiều lần, nung sơ giữa các lớp, tốn công và dễ hỏng.
Men đục như ngọc. Lớp men dày chứa rất nhiều bọt khí và tinh thể li ti, làm ánh sáng tán ra, cho cảm giác mờ ấm như ngọc. Đó là điều người thời Tống đi tìm: gốm mô phỏng chất ngọc, thứ vật liệu được trọng nhất trong văn hoá Trung Hoa.
Ít hoa văn, đề cao dáng. Vì men dày che lấp hoa văn khắc mảnh, đồ Nam Tống chuộng bề mặt trơn, chỉ có gờ nổi, đường gân hoặc hình cá, hoa nổi nhỏ. Vẻ đẹp nằm ở tỷ lệ dáng và sắc men.
Chân đế ửng đỏ. Phần chân đế để mộc của nhiều món Long Tuyền có màu đỏ cam, do sắt trong đất gặp ôxy khi lò nguội. Giới sưu tầm gọi là "chu sa để". Đây là đặc điểm thường gặp nhưng cũng được mô phỏng ở đồ đời sau, nên chỉ là một dấu hiệu tham khảo.
Kê nung gọn. Đồ quý được nung trong bao nung riêng, kê bằng đĩa kê hoặc vòng kê nhỏ dưới chân, để lớp men dày không dính vào đồ khác.
Phấn thanh và mai tử thanh: hai sắc được ca ngợi
Phấn thanh là sắc xanh phấn, xanh nhạt ngả lam, mờ và mịn như được phủ một lớp bột. Men phấn thanh thường được nung ở mức nhiệt để men chưa trong hẳn, giữ lại nhiều bọt khí, nên bề mặt dịu, không bóng. Đây là sắc gắn với những món Nam Tống mà người Nhật về sau gọi là kinuta, theo tên một chiếc bình có dáng giống chày giặt.
Mai tử thanh là sắc xanh như quả mơ xanh, đậm hơn, trong hơn và bóng hơn phấn thanh. Men được nung tới nhiệt cao hơn, thuỷ tinh hoá nhiều hơn. Hai sắc này không phải hai lò khác nhau mà là hai kết quả của cùng một truyền thống, tuỳ công thức men, độ dày và cách điều khiển lò.
Đồ Long Tuyền thời Nguyên và đầu Minh có sắc men đa dạng hơn, nhiều món xanh lục đậm, men bóng hơn, kích thước lớn hơn hẳn. Những đĩa lớn đường kính hơn nửa mét, chum, bình cao được làm cho thị trường Trung Đông và Đông Nam Á. Đồ Nguyên còn có kiểu trang trí điểm những chấm nâu sắt trên nền men ngọc, người Nhật gọi là tobi seiji.
Dáng đồ Long Tuyền thường gặp và nguồn cảm hứng
Rất nhiều dáng đồ Long Tuyền thời Nam Tống mô phỏng đồ đồng và đồ ngọc cổ, phản ánh phong trào phục cổ của giới học giả thời ấy. Một số dáng hay được nhắc trong sách chuyên khảo:
- Lư ba chân dáng đỉnh, mô phỏng đồ đồng nghi lễ cổ, dùng để đốt hương trong thư phòng.
- Bình dáng ống vuông bên ngoài, tròn bên trong, mô phỏng đồ ngọc cổ dùng trong nghi lễ.
- Bình chày giặt (kinuta) cổ dài, vai tròn, thân hình trụ, hai quai nhỏ hình cá hoặc phượng.
- Bát, đĩa trang trí cánh sen nổi bên ngoài, gọi là bát cánh sen, rất phổ biến trong đồ xuất khẩu.
- Đĩa hai cá nổi trong lòng, một biểu tượng quen thuộc của đồ Nam Tống và Nguyên.
- Đồ văn phòng: bút tẩy, giá bút, ống đựng nước mài mực, cho giới văn nhân.
Dáng đồ là một trong những căn cứ tốt nhất để xếp giai đoạn, vì nó thay đổi theo thị hiếu từng thời. Người sưu tầm nên tập vẽ phác dáng đồ khi xem hiện vật để ghi nhớ tỷ lệ.
Đường ra biển: Long Tuyền trên tàu buôn và trong sưu tập thế giới
Từ thế kỷ XII đến XV, men ngọc Long Tuyền là một trong những mặt hàng gốm xuất khẩu quan trọng nhất của Trung Hoa. Nó được tìm thấy ở Nhật Bản, bán đảo Triều Tiên, khắp Đông Nam Á, Ấn Độ, vùng Vịnh, bờ biển Đông Phi. Một trong những bằng chứng rõ nhất là con tàu đắm phát hiện ngoài khơi Sinan, Hàn Quốc, vào giữa thập niên 1970, chìm vào khoảng đầu thế kỷ XIV, chở hàng nghìn món đồ gốm Trung Hoa trong đó có rất nhiều đồ Long Tuyền.
Ở Trung Đông, các sưu tập hoàng gia lớn như sưu tập tại cung điện Topkapi ở Istanbul lưu giữ nhiều đồ men ngọc Long Tuyền cỡ lớn. Ở Nhật Bản, đồ Long Tuyền được trân trọng trong giới trà đạo và được truyền qua nhiều thế hệ trong các đền chùa và gia tộc.
Ở Việt Nam, mảnh và hiện vật Long Tuyền xuất hiện trong nhiều di chỉ khảo cổ. Theo pháp luật về di sản văn hoá, hiện vật từ lòng đất và lòng biển thuộc quản lý của Nhà nước; người sưu tầm chỉ nên tìm hiểu qua bảo tàng và công bố khảo cổ, và chỉ giữ những món có nguồn gốc hợp pháp rõ ràng.
Long Tuyền sau thời Minh và làn sóng mô phỏng
Từ giữa đời Minh, khi sứ hoa lam Cảnh Đức Trấn chiếm lĩnh thị trường trong nước và xuất khẩu, các lò Long Tuyền thu hẹp dần. Đồ cuối Minh thường men mỏng hơn, màu xanh lục xám, dáng nặng, hoa văn khắc vội hơn so với thời đỉnh. Nghề không mất hẳn, nhưng không còn giữ vị trí trung tâm như trước.
Ngay từ đời Minh – Thanh, Cảnh Đức Trấn đã làm đồ phỏng men Long Tuyền và phỏng men các danh diêu Tống cho triều đình, như một cách tôn vinh đồ xưa. Đó là đồ mô phỏng có chủ đích nghệ thuật, thường có hiệu đề của triều làm ra, và tự nó là hiện vật có giá trị nghiên cứu riêng.
Từ thế kỷ XX, nghề men ngọc Long Tuyền được khôi phục, và ngày nay vùng này lại có nhiều lò, nhiều nghệ nhân. Đồ mới làm theo kỹ thuật truyền thống là sản phẩm thủ công đáng trân trọng. Với người sưu tầm, điều quan trọng là phân biệt rõ khi mô tả: đồ Nam Tống, đồ phỏng Tống đời Thanh, hay đồ đương đại theo lối cổ. Ba nhóm này có ý nghĩa lịch sử khác nhau hoàn toàn dù sắc men có thể gần nhau.
Những điều người mới học Long Tuyền hay nhầm
Nhầm sắc men với niên đại. Phấn thanh không đồng nghĩa với Nam Tống, mai tử thanh không đồng nghĩa với đời sau. Cả hai sắc đều có trong nhiều giai đoạn; phải đọc thêm dáng, xương, kê nung.
Coi mọi men ngọc dày là Long Tuyền. Men ngọc dày cũng có ở các lò khác trong và ngoài Chiết Giang làm theo lối Long Tuyền, kể cả các lò ở Phúc Kiến. Giới nghiên cứu thường gọi đó là đồ "hệ Long Tuyền" khi chưa xác định được lò cụ thể.
Đánh đồng Ca diêu với mọi đồ men rạn. Men rạn có ở rất nhiều dòng. Ca diêu là một khái niệm còn tranh luận, không nên dùng làm nhãn chung cho đồ men ngọc rạn.
Tin vào trọng lượng. Đồ Long Tuyền thời Nguyên – Minh cỡ lớn rất nặng, đồ Nam Tống thì mỏng nhẹ. Trọng lượng chỉ có ý nghĩa khi so cùng dáng, cùng kích thước, cùng giai đoạn.
Quên bối cảnh khảo cổ. Phần lớn hiểu biết chắc chắn về Long Tuyền đến từ khai quật lò và tàu đắm có niên đại. Đọc báo cáo khảo cổ giúp tránh dựa vào lời truyền miệng.
Câu hỏi thường gặp
Long Tuyền và Việt Châu khác nhau thế nào?
Cả hai đều ở Chiết Giang và đều là men ngọc, nhưng Việt Châu sớm hơn, nổi tiếng từ đời Đường, men mỏng, xanh xám ô liu. Long Tuyền phát triển mạnh từ Tống, men dày hơn, màu xanh phấn hoặc xanh mơ, và quy mô xuất khẩu lớn hơn nhiều.
Chu sa để có phải là dấu hiệu chắc chắn của đồ Long Tuyền cổ?
Không. Màu đỏ cam ở chân đế xuất hiện nhiều ở đồ Long Tuyền nhưng cũng có ở đồ lò khác và có thể được tạo ra ở đồ hiện đại. Đây chỉ là một dấu hiệu, phải đọc cùng men, dáng và xương gốm.
Vì sao đồ Long Tuyền thời Nguyên lại to hơn thời Tống?
Một phần vì thị trường xuất khẩu, nhất là Trung Đông, chuộng đồ lớn để dùng trong bữa ăn chung. Một phần vì kỹ thuật lò và quy mô sản xuất phát triển. Thẩm mỹ cũng đổi từ thanh nhã thời Tống sang khoẻ khoắn hơn.
Long Tuyền có làm đồ hoa lam không?
Long Tuyền nổi tiếng với men ngọc, không phải hoa lam. Hoa lam là thế mạnh của Cảnh Đức Trấn. Khi hoa lam Cảnh Đức Trấn lên ngôi từ thời Nguyên – Minh, vai trò của Long Tuyền giảm dần.
Kinuta nghĩa là gì?
Kinuta là chữ Nhật chỉ cái chày giặt vải. Người Nhật dùng tên này cho một dáng bình men ngọc Long Tuyền Nam Tống có thân trụ giống chày, rồi mở rộng thành tên gọi cho những đồ Long Tuyền có sắc men xanh phấn đẹp nhất.
Xem men ngọc Long Tuyền ở đâu để học?
Nhiều bảo tàng lớn trên thế giới có sưu tập Long Tuyền. Ở trong nước, có thể xem các hiện vật gốm Trung Hoa trưng bày tại các bảo tàng lịch sử và mỹ thuật lớn, cùng các công bố khảo cổ học về gốm nhập khẩu tại di chỉ thương cảng.