SuuTamCoVat.comSưu Tầm Cổ Vật
Gốm sứ cổ: dòng gốm, men và kỹ thuật chế tác

Gốm Việt qua các thời Lý, Trần, Lê, Mạc: diễn tiến dòng men và kỹ thuật

Từ men ngọc, men trắng ngà thời Lý đến hoa nâu thời Trần, hoa lam thế kỷ XV và đồ thờ có minh văn thời Mạc: diễn tiến dòng men, kỹ thuật và các trung tâm gốm Việt.

Museum display case with Vietnamese ceramics from several eras in a row, ivory bowls, brown painted jar, blue and white dish, soft gallery spotlight, glass reflections

Gốm Việt từ thời Lý đến thời Mạc đi qua một chặng phát triển liên tục: thời Lý nổi bật với men ngọc, men trắng ngà và hoa văn khắc chìm; thời Trần mở rộng gốm hoa nâu với dáng đồ khoẻ khoắn; từ cuối thế kỷ XIV và nhất là thế kỷ XV, gốm hoa lam vẽ coban dưới men phát triển mạnh và theo tàu buôn ra nước ngoài; thời Mạc để lại nhiều đồ thờ có minh văn ghi năm, người cung tiến và cả tên người thợ.

Mỗi giai đoạn không thay thế hoàn toàn giai đoạn trước mà chồng lên nhau: men ngọc vẫn làm khi hoa nâu đã thịnh, hoa nâu vẫn có khi hoa lam lên. Bài này đi qua từng thời ở mức đặc điểm lịch sử – kỹ thuật mà giới nghiên cứu đã mô tả, kèm một bảng tóm tắt, để người sưu tầm có một bộ khung đọc gốm Việt. Các niên đại nêu ở đây là niên đại triều đại; niên đại của từng dòng gốm vẫn còn được các nhà khảo cổ học tiếp tục làm rõ.

Bảng tóm tắt diễn tiến gốm Việt

Bảng dưới đây nêu các dòng tiêu biểu theo từng thời. Đây là khung ghi nhớ; ranh giới giữa các giai đoạn trong thực tế mềm hơn nhiều.

ThờiDòng men tiêu biểuĐặc điểm kỹ thuật thường được mô tả
Lý (1009–1225)Men ngọc, men trắng ngà, men lục, men nâuDáng thanh, hoa văn khắc chìm, in khuôn; đồ đất nung trang trí kiến trúc
Trần (1225–1400)Hoa nâu, men ngọc, men trắng, men nâuĐồ to khoẻ, kê mấu trong lòng, chân đế dày
Cuối Trần – Lê sơ (thế kỷ XIV–XV)Hoa lam, men trắng, men trên menVẽ coban dưới men, đáy quét nâu, sản xuất cho xuất khẩu
Thế kỷ XV–XVI, vùng Hải Dương cũHoa lam Chu Đậu, men màuHoa văn phóng khoáng, nhiều dáng đồ xuất khẩu
Mạc (1527–1592)Hoa lam, men lục, men nâu, đồ đắp nổiĐồ thờ lớn có minh văn, trung tâm Bát Tràng nổi bật
Lê trung hưng – NguyễnMen rạn, hoa lam, men da lươn, gốm sànhĐồ thờ, đồ dân dụng; nhiều làng gốm địa phương

Tên tỉnh trong bài theo đơn vị hành chính hiện hành từ năm 2025; khi nhắc vùng gốm nổi tiếng, bài ghi kèm tên cũ để dễ đối chiếu với tài liệu đã xuất bản.

Thời Lý: men ngọc, men trắng ngà và sự thanh nhã

Gốm thời Lý được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá cao về sự thanh thoát của dáng đồ: bát miệng loe, thành mỏng, chân cao vừa phải; hộp, liễn có nắp; bình, ấm có vòi. Men ngọc, men trắng ngà, men lục và men nâu là các dòng chính. Hoa văn thường là cánh sen, hoa cúc, hoa dây, sóng nước, được khắc chìm hoặc in khuôn trong lòng đồ, men đọng ở rãnh tạo hiệu ứng đậm nhạt tự nhiên.

Thời Lý còn để lại một lượng lớn gốm đất nung và gốm men dùng trong kiến trúc: ngói hoa sen, lá đề trang trí bờ nóc, đầu rồng, đầu chim phượng, tháp gốm nhiều tầng. Các cuộc khai quật ở khu di tích Hoàng thành Thăng Long từ đầu thập niên 2000 đã làm phát lộ rất nhiều hiện vật loại này, cho thấy trình độ tạo hình và nung gốm của thợ thời Lý.

Điểm đáng chú ý cho người sưu tầm là gốm Lý thường có xương trắng ngà hoặc xám nhạt, men mỏng vừa, nhiều hiện vật có vết kê nhỏ trong lòng. Do nằm lâu dưới đất, men nhiều món đã ngả màu, rạn mảnh, có lớp vôi bám. Những dấu hiệu đó là lịch sử của hiện vật; việc làm sạch, nếu cần, thuộc về người phục chế có chuyên môn.

Thời Trần: gốm hoa nâu và dáng đồ khoẻ khoắn

Nếu thời Lý thanh nhã thì gốm thời Trần mang dáng vẻ khoẻ khoắn hơn: thân đồ dày, chân đế to, nhiều thạp, chậu, bình lớn. Dòng tiêu biểu nhất là gốm hoa nâu, men trắng ngà kết hợp với hoa văn màu nâu sắt. Có hai cách làm chính được mô tả: vẽ nét nâu lên nền men trắng, hoặc khắc hoa văn rồi tô nâu vào phần nền quanh hoa văn, để hình nổi lên trên nền nâu.

Đề tài trên gốm hoa nâu rất phong phú: hoa sen, hoa cúc, lá đề, chim, cá, hươu, voi, người cưỡi ngựa, cảnh giã gạo. Lối vẽ phóng khoáng, nét dứt khoát, mang hơi thở của đời sống nông nghiệp. Nhiều nhà nghiên cứu coi gốm hoa nâu là một trong những dòng mang đậm bản sắc Việt nhất, ít có tương đồng trực tiếp với gốm Trung Hoa cùng thời.

Về kỹ thuật, gốm thời Trần thường có vết kê mấu trong lòng bát, đĩa, cho thấy đồ được xếp chồng lên nhau khi nung. Men ngọc, men trắng và men nâu vẫn tiếp tục được sản xuất. Đến cuối thời Trần, những thử nghiệm vẽ coban dưới men bắt đầu xuất hiện, mở đường cho gốm hoa lam của thế kỷ sau; mốc thời gian chính xác của bước chuyển này vẫn đang được giới khảo cổ học nghiên cứu.

Thế kỷ XV: gốm hoa lam và vùng gốm Chu Đậu

Thế kỷ XV là thời gốm hoa lam Việt phát triển mạnh. Coban vẽ dưới men cho màu lam từ xám xanh đến lam đậm, nét vẽ thoải mái, đề tài hoa lá, chim muông, cá, rồng, phượng, phong cảnh. Bên cạnh hoa lam còn có đồ vẽ màu trên men đỏ, lục, vàng, thường kết hợp với hoa lam. Những đồ sứ trắng mỏng và hoa lam tinh tế tìm thấy ở Hoàng thành Thăng Long được nhiều nhà nghiên cứu cho là đồ dùng trong cung đình thời Lê sơ.

Vùng gốm Chu Đậu, thuộc tỉnh Hải Dương cũ (nay là thành phố Hải Phòng), là một trung tâm lớn của thế kỷ XV – XVI. Gốm Chu Đậu được biết đến rộng rãi sau những phát hiện khảo cổ học tại chỗ và qua các hiện vật ở nước ngoài. Hiện vật thường được nhắc nhất là chiếc bình hoa lam lưu giữ tại bảo tàng cung điện Topkapi ở Istanbul, có dòng minh văn ghi năm Thái Hoà thứ tám (1450) và tên người vẽ, một tư liệu quý xác định niên đại cho cả dòng gốm.

Đồ hoa lam thời này hay có đáy quét lớp nước màu nâu, ve lòng để xếp chồng, xương xám trắng hơi thô. Dáng đồ đa dạng: bát, đĩa lớn, bình tỳ bà, ấm, hộp, kendi (bình có vòi dùng ở Đông Nam Á), nhiều dáng được làm theo nhu cầu của thị trường ngoài nước.

Thời Mạc: đồ thờ có minh văn và trung tâm Bát Tràng

Thế kỷ XVI dưới thời Mạc để lại một nhóm hiện vật đặc biệt có giá trị với người nghiên cứu: các chân đèn, lư hương, bình hoa, tháp gốm dùng trong đình, chùa, có minh văn khắc hoặc viết ghi niên hiệu nhà Mạc, tên và quê quán người cung tiến, có khi cả tên người thợ làm ra. Nhờ minh văn, những món này có niên đại chính xác, trở thành mốc chuẩn để so sánh các hiện vật cùng thời không có chữ.

Nhiều minh văn nhắc tới làng Bát Tràng, cho thấy Bát Tràng đã là trung tâm gốm quan trọng vào thời Mạc. Đồ thờ thời này thường lớn, nhiều tầng hoa văn đắp nổi rồng, phượng, sen, mây, kết hợp với hoa lam, men lục, men nâu. Lối trang trí dày đặc, nhiều băng hoa văn chồng lên nhau, khác hẳn sự thanh thoát của gốm Lý.

Đối với người sưu tầm, đồ thờ thời Mạc cũng là lời nhắc về đạo đức: phần lớn hiện vật loại này vốn thuộc về đình, chùa, là tài sản của cộng đồng. Pháp luật về di sản văn hoá có quy định chặt chẽ về cổ vật, đặc biệt là hiện vật gắn với di tích; người chơi nghiêm túc chỉ tìm hiểu qua bảo tàng, ấn phẩm nghiên cứu, và chỉ giữ những món có nguồn gốc hợp pháp rõ ràng.

Sau thời Mạc: các làng gốm và dòng men địa phương

Bát Tràng (Hà Nội). Tiếp tục là trung tâm lớn qua thời Lê trung hưng và Nguyễn, với đồ thờ, men rạn, hoa lam, men lam, đồ dân dụng; làng gốm vẫn hoạt động đến nay.

Phù Lãng (Bắc Ninh). Nổi tiếng với gốm sành men màu vàng nâu, xanh rêu thường được gọi là men da lươn, đồ chum, vại, chậu, tượng đắp nổi.

Thổ Hà (Bắc Giang cũ, nay thuộc Bắc Ninh). Gốm sành nâu không men hoặc ít men, nung rất chín, gõ tiếng vang, chuyên chum, vò, tiểu sành.

Hương Canh (Vĩnh Phúc cũ, nay thuộc Phú Thọ). Gốm sành nâu dân dụng, chum vại, chĩnh, nồi niêu, xương chắc.

Gốm Champa vùng Gò Sành (Bình Định cũ, nay thuộc Gia Lai). Các lò thế kỷ XIV – XVI với men nâu, men xanh, hoa văn khắc vạch, có mặt trong một số tàu đắm ở Đông Nam Á.

Thời Nguyễn. Bên cạnh đồ sứ đặt làm từ Trung Hoa cho triều đình, các lò ở Huế làm gạch, ngói men cho kiến trúc cung đình; ở Nam Bộ, gốm Biên Hoà, Lái Thiêu hình thành và phát triển sang thế kỷ XX.

Cách học gốm Việt cho người mới bắt đầu

Gốm Việt là một mảng rộng, và người mới dễ bị choáng bởi số lượng tên gọi, niên đại, lò. Cách học bền nhất là đi theo trình tự thời gian như trong bảng ở trên: nắm vài đặc điểm then chốt của từng thời, rồi mới đi sâu vào từng dòng, từng lò.

Bảo tàng là lớp học tốt nhất vì hiện vật đã được nghiên cứu và có niên đại. Các bảo tàng lịch sử, mỹ thuật ở Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều bảo tàng tỉnh có sưu tập gốm Việt. Song song, nên đọc các sách chuyên khảo, báo cáo khai quật đã công bố, và tự lập một bộ mảnh gốm chuẩn, tức những mảnh vỡ có nguồn gốc rõ, để tập nhìn xương, men, kê nung bằng chính mắt và tay mình.

Cuối cùng là thái độ: gốm Việt có những giai đoạn và dòng mà giới nghiên cứu còn tranh luận. Người sưu tầm có văn hoá không cần chọn phe, chỉ cần biết đâu là điều đã được xác nhận, đâu là giả thuyết, và ghi chép trung thực về món đồ của mình.

Câu hỏi thường gặp

Gốm hoa nâu có phải chỉ có ở thời Trần?

Gốm hoa nâu phát triển mạnh nhất vào thời Trần, nhưng đã xuất hiện từ thời Lý và còn tiếp tục một thời gian sau đó. Ranh giới giữa gốm hoa nâu Lý và Trần không phải lúc nào cũng rõ, nên nhiều tài liệu gọi chung là gốm hoa nâu Lý – Trần.

Gốm hoa lam Việt khác gốm hoa lam Trung Hoa ở điểm nào?

Nhìn chung gốm hoa lam Việt có xương xám trắng hơi thô hơn, màu lam thường ngả xám xanh, nét vẽ phóng khoáng, đáy hay quét nâu, nhiều món có ve lòng. Sứ hoa lam Cảnh Đức Trấn thường xương trắng mịn, men trong. Đây là xu hướng chung, có ngoại lệ.

Chu Đậu ngày nay thuộc tỉnh nào?

Vùng gốm Chu Đậu trước đây thuộc tỉnh Hải Dương. Từ năm 2025, sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, Hải Dương hợp nhất vào thành phố Hải Phòng, nên khi tra cứu tài liệu mới cần chú ý cả hai tên gọi.

Vì sao đồ thờ thời Mạc quan trọng với người nghiên cứu?

Vì nhiều món có minh văn ghi rõ niên hiệu, người cung tiến, quê quán và đôi khi tên thợ. Những hiện vật có niên đại chắc chắn như vậy là mốc chuẩn để so sánh và xác định niên đại cho các hiện vật cùng phong cách nhưng không có chữ.

Làm thế nào để phân biệt gốm thời Lý và thời Trần?

Có thể tham khảo xu hướng chung: Lý thanh thoát, thành mỏng, hoa văn khắc tinh; Trần khoẻ khoắn, đồ to, kê mấu rõ, hoa nâu phát triển. Nhưng nhiều hiện vật nằm ở vùng giao thoa, nên giới nghiên cứu thường dùng cách gọi chung Lý – Trần khi chưa đủ căn cứ.

Có nên tự đào tìm mảnh gốm ở các khu lò cổ để học?

Không. Khu lò cổ và di chỉ khảo cổ được pháp luật bảo vệ; tự đào bới là vi phạm và làm mất thông tin khoa học. Nên học qua bảo tàng, báo cáo khảo cổ, và chỉ giữ mảnh gốm có nguồn gốc hợp pháp.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.