<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Sưu Tầm Cổ Vật - Cổ Vật - Thế Giới Cổ Vật - Kiến Thức Cổ Vật &#187; Điển Tích Cổ</title>
	<atom:link href="http://suutamcovat.com/category/so-tay-co-vat/dien-tich-co/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://suutamcovat.com</link>
	<description>suutamcovat.com</description>
	<lastBuildDate>Wed, 10 Apr 2019 10:48:01 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	
	<item>
		<title>Hơn ngàn năm tìm lại dấu vết rồng bay nước Việt</title>
		<link>http://suutamcovat.com/hon-ngan-nam-tim-lai-dau-vet-rong-bay-nuoc-viet.html</link>
		<comments>http://suutamcovat.com/hon-ngan-nam-tim-lai-dau-vet-rong-bay-nuoc-viet.html#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 19 Mar 2016 02:50:52 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Điển Tích Cổ]]></category>
		<category><![CDATA[bản đồ phố cổ]]></category>
		<category><![CDATA[bộ sưu tập đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[buôn bán đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[buôn đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[chợ cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[chơi đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[co vat gom su]]></category>
		<category><![CDATA[cổ vật tinh hoa]]></category>
		<category><![CDATA[cổ vật trung hoa]]></category>
		<category><![CDATA[giá tiền cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[giá đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[giá đồ cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[giá đồ gốm sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[gốm sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[gốm sứ cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[hội đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[mua bán cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[mua bán đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[mua bán đồ cổ xưa]]></category>
		<category><![CDATA[mua đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[nhà sưu tầm cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[phố mua bán đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[phố đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[săn đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[sưu tầm đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[sưu tập đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[thu mua đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[vật cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[web đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ bằng đồng]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ các loại]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ gốm sứ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ mua bán]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ thời lý]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ trung hoa]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ việt]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ xưa]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ sành sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ sứ cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[đồ đồng cổ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://suutamcovat.com/?p=373</guid>
		<description><![CDATA[  Khi thuyền ngự về đến bến sông dưới thành Đại La thì rồng vàng bay lên mừng đón. Điềm lành xuất hiện, dân chúng tung hô, lòng vua vô cùng hoan hỷ tin tưởng việc làm đã thuận lòng người, hợp ý Trời. Nên chọn hai chữ “Thăng Long” (Rồng bay) đặt tên kinh <a href="http://suutamcovat.com/hon-ngan-nam-tim-lai-dau-vet-rong-bay-nuoc-viet.html#more-'" class="more-link">more »</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p><strong> </strong></p>
<div class="entry clearfix">
<div>
<p>Khi thuyền ngự về đến bến sông dưới thành Đại La thì rồng vàng bay lên mừng đón. Điềm lành xuất hiện, dân chúng tung hô, lòng vua vô cùng hoan hỷ tin tưởng việc làm đã thuận lòng người, hợp ý Trời. Nên chọn hai chữ “Thăng Long” (Rồng bay) đặt tên kinh đô mới, mở đầu vận hội hưng thịnh, thái bình của đất nước Đại Việt.</p>
<p>Rồng vốn được người Việt tôn thờ làm vật tổ để bảo hộ giống nòi, làm cho gió hòa mưa thuận, mùa màng tốt tươi. Đạo Phật xem Rồng là một trong tám bộ chúng hộ trì Tam Bảo<sup>(2)</sup>. Do đó vào thời đầu tiên xây dựng kinh đô Thăng Long, đề tài “Rồng bay” là nguồn cảm hứng để nghệ nhân sáng tác chạm khắc, trang trí chùa tháp, cung điện cùng với các biểu tượng Phật giáo khác cho phù hợp tư tưởng “dân tộc, đạo pháp” của triều Lý. Các triều đại kế tiếp hình tượng Rồng thay đổi dần theo tư tưởng Nho giáo.</p>
<p><strong>Rồng Lý (1010-1225)</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<table border="0" cellspacing="3" cellpadding="0" align="center">
<tbody>
<tr>
<td><img title="Ngàn năm tìm lại dấu rồng bay nước Việt" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth2013112628c049db-a677-4d61-bb43-07b9570d8fd8.JPG" alt=" Ngàn năm tìm lại dấu rồng bay nước Việt" /></td>
</tr>
<tr>
<td>Hình rồng bay thời Lý</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>&nbsp;</p>
<p>Đầu ngẩng cao, miệng há rộng đớp viên ngọc quý để lộ hai hàm răng nhọn. Răng nanh dài tỳ vào mũi như cái mào. Bờm và râu dài uốn lượn bay về phía đuôi. Thân dài như rắn, trên lưng có vây, dưới bụng có vảy ngang, uốn khúc thành nhiều đoạn từ lớn đến nhỏ dần, rất mềm mại, sinh động. Có bốn chân xòe ra ba móng.</p>
<p>Đồ án “Rồng bay” thiêng liêng suốt triều Lý không thay đổi. Hiện nay chỉ phát hiện được rồng Lý chạm khắc trên đá, đất nung dùng để trang trí, kiến trúc, không thấy xuất hiện trên các loại đồ gốm như chén, bát, thạp, chậu… phục vụ nhu cầu sinh hoạt.</p>
<p>Rồng Trần (1225-1413)</p>
<p>&nbsp;</p>
<table border="0" cellspacing="3" cellpadding="0" align="center">
<tbody>
<tr>
<td><img title="Ngàn năm tìm lại dấu rồng bay nước Việt" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth2013112669d67088-168e-46c4-9134-9e1d9946d0c4.JPG" alt=" Ngàn năm tìm lại dấu rồng bay nước Việt" /></td>
</tr>
<tr>
<td>Phù điêu rồng trên ngói bò triều Trần</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>&nbsp;</p>
<p>Nhà Trần thay nhà Lý, nhưng không gây nên những xáo trộn xã hội nặng nề. Đạo Phật vẫn được tôn trọng phát triển, làm hệ tư tưởng chính của thời đại. Tuy nhiên “Rồng Trần”, theo lời dạy của Phật hoàng Trần Nhân Tông: “Nhà ta vốn là người vùng sông nước, đời đời ưa chuộng tính hùng dũng, thường thích hình rồng vào đùi. Nếp nhà theo nghề võ, nên thích hình rồng vào đùi để không quên gốc”.</p>
<p>Do đó Rồng võ Trần ở giữa lưng võng xuống như yên ngựa, ít uốn khúc. Nanh, râu, bờm, chân đều ngắn hơn Rồng Lý, đầu mọc thêm sừng. Tạo dáng mập mạp, chắc khỏe chứ không uyển chuyển, sinh động như Rồng văn Lý. Biểu tượng Rồng đã phổ biến nên nghệ nhân sáng tạo ra nhiều kiểu dáng phong phú phục vụ cho nhu cầu xây dựng các công trình kiến trúc đình chùa nhân gian.</p>
<p>Rồng Lê Sơ (1428-1526)</p>
<p>&nbsp;</p>
<table border="0" cellspacing="3" cellpadding="0" align="center">
<tbody>
<tr>
<td><img title="Ngàn năm tìm lại dấu rồng bay nước Việt" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131126cb6f7616-e1a1-4292-9f03-92f8e1c1feb5.JPG" alt=" Ngàn năm tìm lại dấu rồng bay nước Việt" /></td>
</tr>
<tr>
<td>Hình rồng thời Lê sơ</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>&nbsp;</p>
<p>Đầu thời Lê sơ, vẫn giữ được truyền thống Rồng Lý – Trần. Về sau, Rồng được xem là biểu tượng độc quyền của vua chúa chịu ảnh hưởng triều Minh – Hồng Kông, cấm hẳn dân gian sử dụng.</p>
<p>Đồ án Rồng phải thay đổi cho phù hợp với tư tưởng quân chủ Nho giáo. Mặt rồng toát lên vẻ uy nghiêm, dữ tợn. Đầu có hai sừng dài như sừng hươu, mắt lồi to, mũi nở lớn như mũi sư tử, tai như tai trâu nằm sát dưới sừng. Đặc biệt có râu dài mọc ra dưới mắt, gần hai bên cánh mũi.</p>
<p>Chân rồng Lê có năm móng xòe ra. Đồ án “Rồng mây” không chỉ điêu khắc trên gỗ, đá phục vụ công trình kiến trúc cung điện, lăng tẩm, mà còn được nghệ nhân dùng men lam thể hiện trên đồ gốm sứ ngự dụng tuyệt đẹp. Đạt đến đỉnh cao về mỹ thuật, kỹ thuật của ngành gốm sứ Việt Nam.</p>
<p>Rồng Mạc (1527-1593)</p>
<p>&nbsp;</p>
<table border="0" cellspacing="3" cellpadding="0" align="center">
<tbody>
<tr>
<td><img title="Ngàn năm tìm lại dấu rồng bay nước Việt" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131126e2834822-48fe-40c3-ba9e-a1bffbef870f.JPG" alt=" Ngàn năm tìm lại dấu rồng bay nước Việt" /></td>
</tr>
<tr>
<td>Hình rồng thời Mạc</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>&nbsp;</p>
<p>Rồng Mạc trở về với truyền thống Rồng Việt thời Lý Trần, có thân mình tròn trịa, uốn khúc uyển chuyển. Thường đi chung với các đề tài Phật giáo thể hiện trên các vật phẩm phục vụ thờ cúng tại đình chùa. Tuy triều đại không được lâu dài nhưng để lại dấu ấn Rồng độc đáo trong kho tàng di sản dân tộc.</p>
<p>Rồng Lê Trịnh (1533-1789)</p>
<p>&nbsp;</p>
<table border="0" cellspacing="3" cellpadding="0" align="center">
<tbody>
<tr>
<td><img title="Ngàn năm tìm lại dấu rồng bay nước Việt" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131126420f342c-7e80-41a3-b5de-1caeafddbc8e.JPG" alt=" Ngàn năm tìm lại dấu rồng bay nước Việt" /></td>
</tr>
<tr>
<td>Rồng khánh xuân Lê Trịnh</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<table border="0" cellspacing="3" cellpadding="0" align="center">
<tbody>
<tr>
<td><img title="Ngàn năm tìm lại dấu rồng bay nước Việt" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth2013112613663793-36b9-4184-ace9-446b9a8a8609.JPG" alt=" Ngàn năm tìm lại dấu rồng bay nước Việt" /></td>
</tr>
<tr>
<td>Rồng phượng khánh thọ Lê Trịnh</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<table border="0" cellspacing="3" cellpadding="0" align="center">
<tbody>
<tr>
<td><img title="Ngàn năm tìm lại dấu rồng bay nước Việt" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131126dea5117c-2b8d-4972-a079-482bf15ff62c.JPG" alt=" Ngàn năm tìm lại dấu rồng bay nước Việt" /></td>
</tr>
<tr>
<td>Rồng nội phủ Lê Trịnh</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>&nbsp;</p>
<p>Rồng “Thăng Long” đến thời này xuất hiện trên đồ sứ ký kiểu tại Cảnh Đức trấn, Hồng Kông để phục vụ nhu cầu trang trí, sinh hoạt của vua Lê, chúa Trịnh.</p>
<p>Đồ án Rồng thời này được tỉa tót bờm, râu, vi, vảy rất tinh tế, sống động. Mặt Rồng toát lên thần thái uy nghiêm, cao quý tột đỉnh. Quanh thân có mây lành (tường vân – tản vân) lan tỏa, phần cuối là đuôi xòe khác hẳn rồng Hồng Kông cùng thời. Nghệ nhân cung đình Lê – Trịnh sáng tác kiểu mẫu tuyệt đẹp nhưng cũng nhờ ký kiểu gặp thời thịnh trị Khang Hy – Ung Chính – Càn Long nên mới chế tạo sản phẩm đồ sứ men “tam lam” tươi sáng như ngọc nổi bật trên nền sứ trắng tinh tuyệt vời như thế.</p>
<p>Một thoáng Rồng bay ngàn năm trôi qua! Cầu mong thiên niên kỷ mới, Rồng thiêng lại xuất hiện để bảo vệ giống nòi giữ vững non sông, phục hưng hào khí Đại Việt, xứng đáng huyền sử con Rồng cháu Tiên.</p>
<p><strong>TRẦN ĐÌNH SƠN</strong> (<em>Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần</em> <em>Xuân)</em></p>
<p>Xem Đại Việt Sử ký Toàn thư – Kỷ nhà Lý: “Thái Tổ Hoàng Đế”. (2) Tám bộ chúng: Trời – Rồng – Quỷ (Dạ Xoa) – Thần hương thơm (Càn Thát bà) – Thần chiến tranh (A-tu-la) – Thần chim đại bàng cánh vàng (Ca-lâu-la) – Thần múa hát (khẩn-na-la) – Thần rắn (Ma- hầu- la già).</p>
</div>
<div id="ctl00_ucPlaceHolder_Div_tacgia">Cổ vật tinh hoa ( Nguồn: Báo Giác Ngộ)</div>
</div>
<div class="postmeta-secondary"></div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://suutamcovat.com/hon-ngan-nam-tim-lai-dau-vet-rong-bay-nuoc-viet.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Ý nghĩa của hình tượng Rồng trong nền văn hóa Việt Nam ở các đời phong kiến</title>
		<link>http://suutamcovat.com/y-nghia-cua-hinh-tuong-rong-trong-nen-van-hoa-viet-nam-o-cac-doi-phong-kien.html</link>
		<comments>http://suutamcovat.com/y-nghia-cua-hinh-tuong-rong-trong-nen-van-hoa-viet-nam-o-cac-doi-phong-kien.html#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 19 Mar 2016 02:44:13 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Điển Tích Cổ]]></category>
		<category><![CDATA[bản đồ phố cổ]]></category>
		<category><![CDATA[bộ sưu tập đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[buôn bán đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[buôn đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[chợ cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[chơi đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[co vat gom su]]></category>
		<category><![CDATA[cổ vật tinh hoa]]></category>
		<category><![CDATA[cổ vật trung hoa]]></category>
		<category><![CDATA[giá tiền cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[giá đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[giá đồ cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[giá đồ gốm sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[gốm sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[gốm sứ cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[hội đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[mua bán cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[mua bán đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[mua bán đồ cổ xưa]]></category>
		<category><![CDATA[mua đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[nhà sưu tầm cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[phố mua bán đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[phố đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[săn đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[sưu tầm đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[sưu tập đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[thu mua đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[vật cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[web đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ bằng đồng]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ các loại]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ gốm sứ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ mua bán]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ thời lý]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ trung hoa]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ việt]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ xưa]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ sành sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ sứ cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[đồ đồng cổ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://suutamcovat.com/?p=374</guid>
		<description><![CDATA[Dân gian phương Đông dùng thuyết “tam đình cửu tự” (thân 3 khúc: đầu, thân, đuôi, kết hợp từ 9 nét khác nhau của 9 loài vật có thật gồm “cửu tự” là chín nét giống, gồm: sừng giống nai, đầu giống đà, mắt giống thỏ, thân giống rắn, bụng giống trai, vảy giống cá, <a href="http://suutamcovat.com/y-nghia-cua-hinh-tuong-rong-trong-nen-van-hoa-viet-nam-o-cac-doi-phong-kien.html#more-'" class="more-link">more »</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<div class="entry clearfix">
<div>
<p>Dân gian phương Đông dùng thuyết “tam đình cửu tự” (thân 3 khúc: đầu, thân, đuôi, kết hợp từ 9 nét khác nhau của 9 loài vật có thật gồm “cửu tự” là chín nét giống, gồm: sừng giống nai, đầu giống đà, mắt giống thỏ, thân giống rắn, bụng giống trai, vảy giống cá, ngón chân giống chim, chân giống hổ, tai giống bò) để nói lên đặc trưng tổng hợp ấy, và để lý giải vị trí bá chủ vạn vật của rồng.</p>
<p><strong>1. Nguồn gốc Bách Việt của rồng</strong></p>
<p>Nghiên cứu cho thấy rồng Đông Á mang nguồn gốc Bách Việt cổ (cộng đồng cư dân cổ thuộc ngữ hệ Austro-asiatic cư trú từ hạ lưu Dương Tử đến Bắc Đông Dương, trong đó có tổ tiên Lạc Việt) trên cơ sở của sự kết hợp<em>rắn, cá sấu</em> và nhiều loại vật khác. Rồng mang một số đặc trưng quan trọng liên quan đến văn hóa Bách Việt như</p>
<p>(1) nguyên mẫu chính từ rắn hoặc cá sấu, tức các loài động vật phổ biến của phương Nam (Rồng có các nguyên mẫu chính gồm <em>rắn, cá sấu, cá, lợn, trâu, ngựa, hổ, chó, tia chớp, sinh thực khí nam </em>– xem Nguyễn Ngọc Thơ: “<em>Về vấn đề nguyên mẫu của Rồng Trung Hoa</em>”, Tập san KHXH&amp;NV, 2007),</p>
<p>(2) tính cách thích nước và sinh sống ở môi trường sông nước; và</p>
<p>(3) rồng là sản phẩm tổng hợp của tư duy âm dương phương Nam.</p>
<p>Theo nhà ngôn ngữ học Nguyễn Tài Cẩn (2000), tên gọi Rồng vốn xuất hiện trong tiếng Việt và một số ngôn ngữ thuộc tiểu chi Proto Việt-Chứt; từ <em>Thìn</em> trong thập nhị địa chi là tên gọi do người Hán vay mượn từ ngôn ngữ Bách Việt cổ. Người Bách Việt, mà cụ thể là Lạc Việt, với truyền thuyết Lạc Long Quân – Âu Cơ, tự xem mình là “conRồng cháu Tiên”. Nhiều nhà nghiên cứu Trung Hoa cũng đồng nhất quan điểm này. Tác giả Văn Nhất Đa trong chuyên khảo “Đoan ngọ khảo” (1993) gắn nguồn gốc xuất hiện của rồng với tết Đoan ngọ và tục đua thuyền rồng của cư dân Ngô Việt vùng hạ lưu Dương Tử. Ngày nay, các vùng đất Nam Trung Hoa, Việt Nam, Đài Loan, Okinawa vẫn còn tục đua thuyền rồng trong các dịp đón năm mới, tết Đoan ngọ hay lễ hội truyền thống (Trịnh Tiểu Lô 1997). Tác giả Trung Hoa Nghê Nông Thủy (2010) chứng minh nguồn gốc Bách Việt của tết Đoan ngọ cùng tục đua thuyền rồng, sau được người Trung Hoa tiếp nhận và gắn thêm chức năng cứu Khuất Nguyên để giáo dục cội nguồn. Nhà dân tộc học người Nga D.V. Deopik (1993) từng viết “Rồng là con vật đặc thù chung cho tất cả các dân tộc Việt và chính từ đây nó đã đi vào văn hóa Trung Hoa”. Còn nhà Việt Nam học người Nga N. I. Niculin cũng nhận xét: “Trong văn hoá truyền thống của người Việt, hình tượng con Rồng – một con vật tưởng tượng – trở thành biểu tượng quan trọng nhất… Chính người Việt từ ngàn xưa đã biết trồng lúa nước và đánh cá… Hoàn toàn có cơ sở để cho rằng hình tượng con rồng trong văn hoá Trung Hoa có nguồn gốc từ phương Nam, từ vùng Đông Nam Á, từ Việt Nam và các quốc gia láng giềng….” (Xem Xem Trần Ngọc Thêm, Nguyễn Ngọc Thơ: “Nguồn gốc con rồng nhìn từ văn hóa học”,<em>Tập san KHXH&amp;NV</em>, 2011).</p>
<p>Từ chiếc nôi Bách Việt, rồng lan truyền ra xung quanh, tại mỗi địa phương rồng khoác lên sắc thái văn hóa của riêng địa phương mình. Chính vì vậy, rồng đã trở nên đa dạng về chủng loại và hình dáng, tạo nên một “Gia tộc họ rồng” cực kỳ đa dạng về hình thức lẫn chức năng.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>2. Gia tộc họ rồng</strong></p>
<p><strong>   </strong>Lấy giới tính làm tiêu chí phân loại thì có hai loại rồng đực đuôi có hạt châu hoặc chỉ có chiếc đuôi đơn thuần và rồng cái đuôi phân nhánh thành hoa văn hoa cỏ.</p>
<p><img title="Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131126c6945137-83a7-46ac-abfc-1221ea627895.JPG" alt=" Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" /></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Thứ hai là tiêu chí nguyên mẫu. Rồng hình thành từ sự kết hợp đa loài, dù vậy vẫn có thể nhận diện loài vật đặc trưng nhất. Tiêu biểu có rồng rắn, rồng cá sấu, rồng cá, rồng ngựa, rồng hổ, rồng chó, rồng chim, rồng thuồng luồng (giao long), rồng kỳ đà, rồng cáo…</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><img title="Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth2013112631a851e5-959d-40d8-af23-afff7d6e4983.JPG" alt=" Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" /><img title="Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131126d1dc6c7f-2507-4342-955e-8c3b48593fc5.JPG" alt=" Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" /><img title="Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth201311260aae16e5-2e9e-4b19-9998-190716de5ef4.JPG" alt=" Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" /></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Còn nếu dựa vào tứ chi của rồng để phân thì có các loại rồng 5 móng, 4 móng, 3 móng; không chân và rồng có tứ chi là hoa văn cây cỏ. Rồng 5 móng là loại rồng chuẩn, từ đầu Công nguyên trở đi đã trở thành biểu tượng của vua chúa, thường xuyên bị hoàng gia lũng đoạn, dân gian bị cấm dùng. Quan lại chỉ được phép dùng rồng 4 móng, có thời kì bị bắt buộc dùng hình mãng xà (như thời Minh ở Hồng Kông). Rồng không chân thường được hiểu là thuồng luồng, xuất hiện nhiều trong truyền thuyết dân gian. Rồng có tứ chi phát triển thành hoa văn hoa cỏ thường được dùng nhiều trong nghệ thuật trang trí kiến trúc hay hội họa truyền thống.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><img title="Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131126a769a3bf-74ce-4029-bc74-cf4882db7efd.JPG" alt=" Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" />    <img title="Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth201311266283e40a-2051-427f-af44-cc25f86bd0b5.JPG" alt=" Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" /></p>
<p><em>                                                                       Quỳ long</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>–    Trong truyền thuyết phương Đông, rồng có chín con với hình dáng và sở thích hoàn toàn khác nhau, bao gồm<em>bị hí, xi vẫn, bồ lao, bệ ngạn, thao thiết, công phúc, nhai xế, toan ngê, tiêu đồ</em>; bên cạnh là một số linh vật họ rồng khác nữa như <em>tù ngưu, phụ hý, trào phong, tỳ hưu, hải trãi</em> v.v. [Nguyễn Ngọc Thơ<em>: Rồng Trung Hoa,</em> Luận văn thạc sỹ, 2003].</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><img title="Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131126fa65fcaa-a673-4193-8c92-0b3d40da435a.JPG" alt=" Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" /><img title="Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131126de2cc405-286d-42ec-8462-40842b03390c.JPG" alt=" Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" /><img title="Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131126abf807fb-26e9-4495-a385-68b15f1ba427.JPG" alt=" Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" /></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>3. Rồng qua các thời kỳ</strong></p>
<p>Con rồng đã từng là một tô tem trong tín ngưỡng sơ khai của người Việt Nam. Dân Việt cổ có tục xăm mình, phổ biến trong số ấy là họa tiết rồng (giao long). Theo ghi chép trong <em>Hoài Nam Tử</em> và <em>Sơn Hải Kinh</em>, rồng được người Việt xưa xăm lên đùi để khi xuống nước “tránh bị giao long làm hại”. Đến đời vua Trần Anh Tông (1293-1314) mới chấm dứt tục xăm mình. Rồng là hình tượng của mưa thuận gió hòa, là linh vật đứng vào hàng bậc nhất trong tứ linh “long, lân, quy, phụng”. Hình tượng rồng thời đại Hùng Vương là một linh vật thân dài có vẩy như cá sấu được chạm trên các đồ đồng, đặc biệt là trên trống đồng.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><img title="Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth2013112605a279f7-c66f-44be-8418-6ab0b62973b0.JPG" alt=" Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" /></p>
<p>Qua thời kỳ Bắc thuộc, con rồng Việt Nam dần xuất hiện rõ nét dưới thời Lý. Thủ đô Thăng Long được đặt tên theo thế “rồng bay”. Rồng thời Lý là con vật mình dài như rắn, thường thân trơn, lưng có vây, thân uống cong nhiều vòng uyển chuyển theo hình sin mềm mại và thoải nhỏ dần về phía đuôi, tạo cảm giác dòng văn hóa dân gian mượt mà dài vô tận. Rồng có bốn chân, mỗi chân có ba móng cong nhọn. Đầu rồng ngẩng cao, há miệng rộng với hai hàm răng nhỏ đang vờn đớp viên ngọc quý. Từ mũi thoát ra mào lửa. Trên trán rồng có một hoa văn giống hình chữ “S”, tượng trưng cho sấm sét, mây mưa [Xem <em>Mỹ thuật thời Lý,</em> 1973]. Trên đại thể, rồng thời Lý là rồng văn, rồng Phật giáo.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><img title="Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131126b475df6c-271d-495f-b4da-dc8258da747f.JPG" alt=" Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" /></p>
<p>Hình tượng con rồng thời Trần có nhiều biến đổi so với thời Lý. Đây là thời kì người Việt Nam ba lần đánh bại quân thiện chiến Nguyên Mông, do vậy triều Trần được cho là triều đại trọng võ. Dấu ấn ấy có thể nhìn thấy rất rõ qua hình tượng rồng. Đầu rồng xuất hiện thêm hai chi tiết là cặp sừng và đôi tay, chiếc mào lửa ngắn hơn. Thân rồng tròn lẳn, mập mạp, nhỏ dần về phía đuôi, uốn khúc nhẹ, lưng võng hình yên ngựa. Đuôi rồng có nhiều dạng, khi thì đuôi thẳng và nhọn, khi thì xoắn ốc. Các vảy cũng đa dạng, có khi là những nửa hình nụ hoa tròn, có khi chỉ là những nét cong thanh thoát [Xem <em>Mỹ thuật thời Trần</em>, 1977].</p>
<p>Rồng thời Lê (thế kỷ XV) hoàn toàn khác biệt với rồng thời Lý-Trần. Thân rồng có xu hướng ngắn lại, tư thế đa dạng phong phú. Đầu rồng to, bờm lớn ngược ra sau, mào lửa mất hẳn, thay vào đó là một chiếc mũi to. Thân rồng lượn hai khúc lớn, chân có năm móng sắc nhọn quắp lại dữ tợn. Rồng thời Lê tượng trưng cho quyền uy phong kiến [Xem <em>Mỹ thuật thời Lê Sơ</em>, 1978].</p>
<p>Rồng thời Lê Trung hưng nhìn chung ít thay đổi so với thời Lê Sơ, điểm nổi bật là hình tượng rồng dần dà đi vào đời sống thường dân, đặc biệt là các mô típ bầy rồng con quây quần bên rồng mẹ, rồng đuổi bắt mồi, rồng vui cảnh lứa đôi v.v..</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><img title="Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131126538d73b4-e18f-452b-96b5-f6b5f1aafb9b.JPG" alt=" Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" /></p>
<p>Con rồng thời Nguyễn trở lại vẻ uy nghi vương quyền. Rồng được thể hiện ở nhiều tư thế, ẩn mình trong đám mây, hoặc rồng hàm thọ, lưỡng long triều nhật, lưỡng long chầu hoa cúc, lưỡng long chầu chữ thọ v.v.. Thân rồng không dài ngoằn, uốn lượn với độ cong lớn. Đầu rồng to, sừng giống sừng hươu có nhánh phụ cùng chĩa ngược ra sau. Mắt rồng lộ to, mũi giống mũi lân hoặc sư tử, miệng há to để lộ hàm răng răng nanh chắc khỏe. Vây trên lưng rồng có tia, thân cuộn hoa văn lửa hoặc mây, phân bố dài ngắn đều đặn. Râu rồng uốn sóng từ dưới mắt chìa ra cân xứng hai bên. Hình tượng rồng dùng cho vua chân có năm móng mạnh mẽ, còn quan và tầng lớp quý tộc chỉ được pháp dùng rồng bốn hoặc ba móng, đuôi không có bờm lông, các chi tiết hoa văn lờ mờ hơn rồng cung đình. Rồng trên mái đình chùa miếu mạo thường cũng chỉ có bốn móng([1]).</p>
<p>&nbsp;</p>
<div><img title="Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth201311263b1688a0-75af-4177-be23-e800dfd9a3e7.JPG" alt=" Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" /></div>
<div><em>Long ấn thời Nguyễn</em></div>
<div></div>
<div>    Kể từ khi triều Nguyễn kết thúc, tính phân tầng xã hội trong quy cách sử dụng mô típ rồng không còn nữa, chính vì vậy người ta có thể chạm khắc rồng với muôn hình vạn trạng, từ vân long, đoàn long, quỳ long, ứng long, li long, giao long, rồng 5 ngón, 5 ngón, 3 ngón v.v.. Hình tượng con rồng cũng không còn tính chất thiêng liêng, tối thượng như xưa, thay vào đó dân gian vẫn đưa vào trang trí cho các công trình kiến trúc, hội họa, chạm, khắc nghệ thuật với những ý nghĩa dân gian, bình dị.</div>
<div></div>
<div>  <strong>4. Rồng trong tâm thức người Việt</strong></div>
<div>       Như vậy, tổ tiên Bách Việt đã từng có tô tem rồng. Sau quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa với Trung Hoa, người Việt Nam tiếp nhận trở lại hình ảnh và ý nghĩa của mẫu rồng Á Đông đã hoàn thiện hóa từ người Trung Hoa. Từ đó trở đi, rồng ngự trị trong tâm thức người Việt như một linh vật đặc biệt, là “vạn vật chi đế”, là biểu tượng cộng gộp tất cả các ước vọng tốt đẹp nhất của cuộc sống nhân sinh.</div>
<div></div>
<div>      Trước nhất, rồng là linh vật tổng hợp từ nhiều loại vật có thật trong tự nhiên, do vậy rồng mang trong mình hết thảy các ưu thế vượt trội của các loài, trong đó sức mạnh và quyền năng thiên biến vạn hóa là hai đặc tính quan trọng. Rồng được cho là biểu trưng của sự mạnh mẽ, hùng tráng, là uy lực bất bại trước kẻ thù.</div>
<div></div>
<div>       Từ đặc tính tạo thành từ giới tự nhiên, rồng được người Việt Nam và Đông Á nói chung vay mượn để thực hành hoặc chuyển tải các thông điệp tâm lý – xã hội. Với tính năng siêu việt, rồng được tin là linh vật mang lại điềm lành, sự may mắn, thịnh vượng, sự thông thái; đồng thời còn là sứ giả để gửi gắm những ước vọng trong đời: cầu mưa, cầu phồn thực. Chính từ đó, trong dân gian xuất hiện các mô-típ rồng hút nước biển Đông để tưới vào đất liền, cá chép vượt vũ môn hóa rồng, rồng trừng trị kẻ ác để bảo vệ chúng dân; thế đất rồng trong phong thủy mang đến cuộc sống phồn vinh (long mạch, long hổ hội, Dinh Độc Lập = phủ đầu rồng); hiện tượng rồng “cù dậy” (cù lao); rồng là một trong 12 con vật đại diện trong dãy Thập nhị Địa chi; mượn tên gọi Long, Rồng để đặt tên đất (Thăng Long, Hạ Long, Cửu Long, Long Hải, Hàm Rồng v.v.), tên người, tên các loài động thực vật hay dụng cụ khác giống rồng (địa long = giun đất, cá mắt rồng;  long nhãn, rau long tu, cây long huyết, cỏ long đảm; đầu rồng = vòi nước v.v.); múa lân-sư-rồng v.v..</div>
<div></div>
<div>      Tương tự, rồng được khắc, họa trong nhiều công trình kiến trúc quan trọng từ kinh đô đến nhà dân, từ đình chùa miếu mạo đến các cơ quan công quyền (truyền thống) như một thể hiện sống động của rồng trong tâm thức người Việt. Lấy hoa văn trang trí trên đình chùa miếu mạo làm ví dụ, người Việt Nam có xu hướng quy tụ vào nhóm Tứ linh (long-lân-quy-phụng) hơn là xu hướng đa dạng hóa các mô típ trang trí của người Trung Hoa (rồng-phụng, bát vật, bát bảo, bát tiên quá hải, các nhân vật truyền thuyết-thần thoại, các linh vật họ rồng v.v.. – có thể xem ở miếu Thiên Hậu Tuệ Thành số 710 đường Nguyễn Trãi, Quận 5, Tp. Hồ Chí Minh). Các mô típ thường thấy nhất là “lưỡng long tranh châu”, “lưỡng long triều nhật”, “tứ linh hội tụ”, “dây lá hóa long” v.v.. Ở đất Nam Bộ, rồng còn gắn liền với cá chép, cả hai đều là loài vật thích nước, đều là vật biểu trưng của vùng đất phương Nam đầy sông nước, như ở Tổ đình chùa Giác Lâm (Tp. Hồ Chí Minh) chẳng hạn.</div>
<div></div>
<div>       Trong ca dao tục ngữ, phần đông rồng được dùng để chuyển tải ý nghĩa cao quý, thánh thiện, nhấn mạnh chức năng tâm lý:<em>  </em></div>
<div><em>          – Một ngày dựa mạn thuyền rồng</em><br />
<em>            Còn hơn muôn kiếp ở trong thuyền chài</em></div>
<div><em>        </em><em>– Bao giờ cá chép hoá long</em><br />
<em><em>          Đền ơn cha mẹ ẵm bồng ngày xưa.</em></em></div>
<div><em><em>        </em></em><em>– <em>Thế gian được vợ hỏng chồng</em><br />
<em>         Có đâu như rồng mà được cả đôi.</em></em></div>
<div>       <em>– Dẫu ngồi cửa sổ chạm rồng</em><br />
<em>         Trăm khôn nghìn khéo không chồng cũng hư</em></div>
<div><em> </em><em>      – Trứng rồng lại nở ra rồng</em><br />
<em>         Liu điu lại nở ra dòng liu điu</em></div>
<div>      Đôi khi còn dùng rồng để chuyển tại thông điệp tình yêu:</div>
<div>       <em>– Nhớ chàng như vợ nhớ chồng</em><br />
<em><em>         Như chim nhớ tổ, như rồng nhớ mây</em></em></div>
<div><em><em>      </em></em><em>– Tình cờ anh gặp mình đây</em><br />
<em><em>         Như cá gặp nước, như mây gặp rồng</em></em></div>
<div>      – <em>Trăm năm ghi tạc chữ đồng</em><br />
<em><em>        Dù ai thêu phụng vẽ rồng mặc ai</em></em></div>
<div><em><em>      </em></em>– <em>Có chồng thì phải theo chồng</em><br />
<em><em>        Chồng đi hang rắn, hang rồng cũng theo..</em></em></div>
<div>    Hay kinh nghiệm sống:</div>
<div>      – <em>Rồng đen lấy nước thì nắng;</em></div>
<div><em>        Rồng trắng lấy nước thì mưa</em><em>   </em></div>
<div><em>      – Rồng đen lấy nước được mùa;</em></div>
<div><em>        Rồng trắng lấy nước thì vua đi cày..</em></div>
<div>   Dùng làm câu đố:</div>
<div>        <em>Đầu rồng đuôi phụng le te,</em><br />
<em>        Mùa xuân ấp trứng, mùa hè nở con</em><br />
(<em>Cây cau</em> – xem Phan Thuận An: cuasomoi.com)</div>
<div></div>
<div>    Hoặc dùng rồng như một thứ để giễu cợt, mỉa mai, trách móc:</div>
<div>        –<em> Rồng nằm bể bắc phơi râu,</em><br />
<em>          Đến khi nước cạn hở đầu hở đuôi </em><em>   </em></div>
<div><em>        – <em>Ăn rồng cuốn, nói rồng leo, làm mèo mửa </em>v.v..</em></div>
<div>(Phùng Thành Chủng: newvietart.com)</div>
<div></div>
<div>     Với thuyết Hồng Bàng thị, người Việt Nam còn coi rồng là một biểu trưng của nguồn cội, của ý thức giống nòi và tinh thần đoàn kết toàn dân tộc. Ý thức “Con rồng cháu tiên” sớm ngấm ngầm vào da thịt từng người con đất Việt từ thuở lọt lòng mẹ.</div>
<div></div>
<div><img title="Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131126f41e50a8-1ecb-46a7-a772-82be3ab4f70f.JPG" alt=" Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" /></div>
<div></div>
<div>      Cũng ở chức năng này, rồng sớm bị các bậc đế vương phong kiến lũng đoạn, bắt đầu từ nhà Hán ở Trung Hoa([2]), sau ảnh hưởng đến Việt Nam và các quốc gia Đông Á khác. Từ đó rồng được phân loại mạnh mẽ: rồng 5 móng là rồng chuẩn mực, là biểu tượng của vua chúa, hoàng gia nên dần dà trở thành vật sở hữu của họ([3]). Dân gian từ thời Lê trở về sau bị hạn chế dùng rồng trong trang trí, nhất là rồng 5 móng. Trong tâm thức dân gian Nam Bộ, rồng là biểu hiện của văn hóa cung đình, do vậy ca dao có câu “<em>Rồng chầu ngoài Huế, ngựa tế Đồng Nai..”.</em> Tại các đình chùa miếu mạo do dân gian xây dựng, mô típ rồng thường thấy là rồng 4 móng hoặc 3 móng, tức chưa là rồng chuẩn. Như một sự phản kháng, dân chúng đã tạo ra các kiểu rồng không mọc chân mà thay vào đó là các kiểu hoa văn hoa cỏ sinh động để thể hiện ước vọng thăng hoa của nội tâm, đặc biệt là chạm khắc trên các công trình kiến trúc (quỳ long, li long, cù long v.v..).</div>
<div><img title="Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth2013112683d10d54-7787-4949-ade0-60651dede2cb.JPG" alt=" Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" /></div>
<div><em>Mô típ “Lưỡng long triều nhật” ở Lăng Tả quân Lê Văn Duyệt (Tp.HCM)</em></div>
<div></div>
<p>Ở chức năng tâm linh, rồng được hiểu là thần thánh, phần nhiều là thiện thần. Hai trong những nguyên do biến rồng thành thần gồm (1) linh vật tổng hợp từ sự vượt trội của nhiều loài; (2) rồng có thể thiên biến vạn hóa và thông thiên kết nối nhân gian và thế giới thần tiên. Chính vì vậy, người Việt sớm nhận thức rằng rồng là hiện thân của thần linh để trị ác cứu dân, là vật cưỡi của thần tiên (như mô típ tiên cưỡi rồng trong kiến trúc đình Bắc Bộ) hay chư Phật (trong kiến trúc chùa), là linh vật chầu phục Đức Thái Thượng Lão Quân trong Đạo giáo. Sự ngự trị tối cao của rồng so với các loài vật khác còn có thể thấy trong quần thể tòa thánh Cao Đài ở Nam Bộ (trần mái Cửu Trùng Đài, cột rồng v.v.). Ở chùa An Phước (Quận 8, Tp. Hồ Chí Minh), người ta đúc thuyền hình rồng trên có năm thầy trò Đường Tăng đầu quay về Thiên Trúc với ý nghĩa rồng hộ tống, đưa Phật tử và chúng sinh thánh thiện về đất Phật.</p>
<div><img title="Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth201311264d603af0-5e82-4e56-b3a9-422697d7cf69.JPG" alt=" Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" /><img title="Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131126718ebf6d-6888-4b1f-9bd9-87bdbf803488.JPG" alt=" Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" /></div>
<div><em>Long ấn thời Nguyễn</em></div>
<div></div>
<div>    Tuy nhiên, chức năng tâm linh này của rồng thường được hiểu là gắn liền với chức năng ổn định tâm lý và giáo dục con người (tu tâm dưỡng tính, gửi gắm niềm mong mỏi một cuộc sống tốt đẹp hơn v.v.) là chính. Trong xã hội đương đại vẫn còn dấu vết của hiện tượng mê tín hóa biểu tượng rồng, chẳng hạn chuyện chọn năm Thìn để sinh con, hoặc chọn ngày giờ phù hợp sinh con để được quẻ Thuần Rồng (trong Tử vi); chuyện dùng nước “giếng rồng” để chữa bệnh; quan niệm ăn thịt rồng (thực chất là thịt rắn), trứng rồng (trứng đà điểu) để trường sinh bất lão; chuyện cúng tế “cù long” (rồng cù dậy) trong những ngôi nhà nền đất mặt sần sùi giống vảy rồng do đi lại lâu ngày tạo nên v.v..</div>
<div>     o0o</div>
<div>    Vậy đó, tổ tiên đã tạo ra biểu tượng rồng như là một biểu hiện của khát vọng vươn lên chinh phục tự nhiên và chinh phục chính mình. Cùng với thời gian, con người đã “thiên biến vạn hóa” biểu tượng rồng và sử dụng chúng theo những mục đích khác nhau, song chính những giá trị tốt đẹp của rồng trong tâm thức con người đã đảm bảo sự tồn tại và phát triển của nó.</div>
<div></div>
<div>
<hr />
</div>
<div>[1] Xem B.A.V.H 1915: <em>Nh</em><em>ững người bạn cố đô Huế</em> (tập 2), Đặng Như Tùng dịch, NXB Thuận Hóa.</div>
<div>[2] Hán Cao Tổ Lưu Bang sinh thời da vẻ sần sùi, tự xưng là giống rồng và ngụy tạo chuyện rồng cha truyền giống để lý giải quyền Thiên tử của mình. Tương truyền, mẹ là Lưu Ôn trong lần ra vườn Thượng uyển thấy bàn chân to trên đá, bá ướm thử, bỗng giông tố nổi lên, bà ngất xỉu. Trong lúc hôn mê, bà thấy một con rồng xanh từ trên trời bay xuống thụ tinh cho bà, bà có mang, sau sinh ra Lưu Bang.</div>
<div>[3]Ở Trung Hoa, thời Minh Gia Khánh rồng bị lũng đoạn nghiêm trọng, chỉ có vua mới được dùng rồng, hoàng tử, quan lại chỉ dùng mãng xà, dân chỉ dùng rắn. Hoàng hậu đương triều trong một lần nhớ chồng mân mê chiếc long bào có hình rồng lập tức bị xử tội (xem <em>Rồng Trung Hoa</em>, luận văn thạc sỹ, 2003).</div>
<div></div>
<div>
<p><strong>Nguyễn Ngọc Thơ</strong></p>
<p><em><strong>         (Đã đăng trên Đặc san Khoa học Xã hội số 42, tháng 1 năm 2012)</strong></em><strong> </strong></p>
</div>
</div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://suutamcovat.com/y-nghia-cua-hinh-tuong-rong-trong-nen-van-hoa-viet-nam-o-cac-doi-phong-kien.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Ý nghĩa của các biểu tượng trong nền hội hoạ Trung Quốc</title>
		<link>http://suutamcovat.com/y-nghia-cua-cac-bieu-tuong-trong-nen-hoi-hoa-trung-quoc.html</link>
		<comments>http://suutamcovat.com/y-nghia-cua-cac-bieu-tuong-trong-nen-hoi-hoa-trung-quoc.html#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 19 Mar 2016 02:43:30 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Điển Tích Cổ]]></category>
		<category><![CDATA[bản đồ phố cổ]]></category>
		<category><![CDATA[bộ sưu tập đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[buôn bán đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[buôn đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[chợ cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[chơi đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[co vat gom su]]></category>
		<category><![CDATA[cổ vật tinh hoa]]></category>
		<category><![CDATA[cổ vật trung hoa]]></category>
		<category><![CDATA[giá tiền cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[giá đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[giá đồ cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[giá đồ gốm sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[gốm sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[gốm sứ cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[hội đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[mua bán cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[mua bán đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[mua bán đồ cổ xưa]]></category>
		<category><![CDATA[mua đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[nhà sưu tầm cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[phố mua bán đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[phố đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[săn đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[sưu tầm đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[sưu tập đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[thu mua đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[vật cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[web đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ bằng đồng]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ các loại]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ gốm sứ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ mua bán]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ thời lý]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ trung hoa]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ việt]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ xưa]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ sành sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ sứ cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[đồ đồng cổ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://suutamcovat.com/?p=375</guid>
		<description><![CDATA[chinese painting Tranh của Đường Dần (đời Minh) Mỗi khi thưởng ngoạn một bức tranh Hồng Kông, ấn tượng ban đầu của đa số chúng ta hầu như ở phương diện hình thức, tức là đánh giá xem tranh vẽ có đẹp hay không. Nhưng nếu tự hỏi tại sao tranh có chủ đề như <a href="http://suutamcovat.com/y-nghia-cua-cac-bieu-tuong-trong-nen-hoi-hoa-trung-quoc.html#more-'" class="more-link">more »</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<div class="entry clearfix">
<div>
<div>
<div>
<div>
<div id="cc-m-imagesubtitle-5052508964"><img id="cc-m-imagesubtitle-image-5052508964" title="chinese painting" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth201312021a5eaaac-1c01-4477-8113-be4c7071fc42.JPG" alt=" Ý nghĩa các biểu tượng trong hội hoạ Trung Quốc" /></div>
</div>
<div>
<div>chinese painting</div>
</div>
</div>
<div id="cc-m-textwithimage-5052442164">
<div><img id="cc-m-textwithimage-image-5052442164" title="Tranh của Đường Dần (đời Minh)" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131202c478818c-8e03-4bc1-a326-984a8b083f9b.JPG" alt=" Ý nghĩa các biểu tượng trong hội hoạ Trung Quốc" /></div>
<p>Tranh của Đường Dần (đời Minh)</p>
</div>
<p>Mỗi khi thưởng ngoạn một bức tranh Hồng Kông, ấn tượng ban đầu của đa số chúng ta hầu như ở phương diện hình thức, tức là đánh giá xem tranh vẽ có đẹp hay không. Nhưng nếu tự hỏi tại sao tranh có chủ đề như thế, hay tác giả muốn gởi gấm điều gì qua bức tranh ấy, có lẽ không ít người lúng túng tìm câu giải đáp.</p>
<p>Ở đây chúng ta sẽ không xét tới những hoạ phẩm của những tác giả hiện đại chịu ảnh hưởng những trường phái hội hoạ Tây phương (như phái ấn tượng, phái siêu thực, v.v…) mà chính tác giả mới hiểu hoặc không ai hiểu gì cả (kể cả tác giả). Chúng ta cũng không xét tới các hoạ phẩm mang tính chất tôn giáo bởi vì mục đích của tranh đã thấy rõ. Chúng ta sẽ xét những bức tranh mang đậm nét truyền thống, thậm chí dân gian, để thấy ý nghĩa biểu tượng được gởi gấm trong đó. Thí dụ như tranh có các chủ đề như: hoa điểu, rồng, ngựa, vượn, cá, tùng hạc, sơn thuỷ, v.v…</p>
<p>Đối với loại tranh này, cái chủ đề với ý nghĩa biểu tượng thì quan trọng hơn phong cách hay kỹ thuật thể hiện (thuật ngữ chuyên môn gọi là <em>kỹ pháp</em> 技法). Tác giả có thể dùng <em>công bút</em> 工笔(tức là lối vẽ tỉ mỉ, bất cứ vật gì cũng có đường viền thậm chí cọng cỏ hay chiếc lá, rồi tô màu lên); hoặc dùng <em>ý bút</em> 意笔 (tức là lối vẽ phóng khoáng, loại bỏ hoặc rất hạn chế đường viền, thậm chí một nét bút cũng thành lá lan hay cọng cỏ). Tác giả cũng có thể dùng màu sắc rực rỡ tươi thắm, hoặc màu sắc nhàn nhạt lạnh lẽo, thậm chí vẽ toàn mực đen (thuật ngữ gọi là <em>mặc hoạ</em> 墨畫). Dù sao mặc lòng, tất cả điều ấy cũng chỉ là những hình thức thể hiện đa dạng, mà mục đích chủ yếu là nhằm chuyển tải một ý nghĩa biểu tượng nào đó.</p>
<p>Có hai điểm nổi bật của loại tranh này. Thứ nhất, trong cuộc sống người ta thường gán cho một sự vật nào đó một ý nghĩa biểu tượng. Thí dụ: trúc là quân tử, mai là giai nhân, cây tùng và chim hạc ngụ ý trường thọ (tùng hạc diên niên 松鶴延年), v.v… Hoạ sĩ chỉ việc thể hiện nó bằng kỹ pháp riêng của mình. Đặc điểm thứ hai là thông qua ngôn ngữ (nhất là từ ngữ đồng âm hay cận âm) người ta sẽ liên tưởng hình vẽ này đến một sự vật nào đó với ý nghĩa biểu tượng nhất định trong tâm thức chung của mọi người. Thí dụ bức tranh vẽ con cá. Chữ Hán <em>ngư</em> 魚 (cá) đồng âm [yú] (âm Bắc Kinh) với chữ <em>dư</em> 餘 (dư thừa, dư dật). Qua ý nghĩa biểu tượng này là niềm ao ước một cuộc sống dư dật, khá giả. Nếu vẽ 9 con cá, thì ước nguyện này càng mạnh mẽ. Chữ Hán <em>cửu</em> 九 (số 9) đồng âm [jiǔ] với chữ <em>cửu</em> 久(lâu dài, trường cửu). <em>Cửu ngư</em> 九魚 (9 con cá) phát âm [jiǔ yú] giống như <em>cửu dư</em> 久餘 (dư dật lâu dài), ngụ ý một ước mong được sống khá giả mãi. Điều này cũng giống như người Việt Nam sắp đặt dĩa trái cây chưng tết gồm mãng cầu, dừa xiêm, đu đủ, xoài với ước nguyện khiêm tốn «cầu vừa đủ xài» trong tiết xuân sang; bởi vì người Việt ở Nam Bộ phát âm «dừa» giống như «vừa», «xoài» giống như «xài». (Thật ra mong ước đó không khiêm tốn đâu, bởi vì ở đời biết thế nào mới là đủ). Tất nhiên sự so sánh này chỉ nhắm vào khía cạnh ngôn ngữ, không xét tới hình thức thể hiện.</p>
<div id="cc-m-textwithimage-5052445864">
<div><img id="cc-m-textwithimage-image-5052445864" title="" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131202bf4c25be-618b-4b95-9a75-3c0dacc5f462.JPG" alt=" Ý nghĩa các biểu tượng trong hội hoạ Trung Quốc" /></div>
</div>
<p>Sau đây chúng ta thử tìm ra một số hình ảnh biểu tượng trong hội hoạ Hồng Kông. Trước tiên, khi nói đến tranh thuỷ mặc 水墨 (thường bị đọc nhầm là <em>thuỷ mạc</em>) thì chúng ta thường liên tưởng ngay đến tranh sơn thủy. Đây là một mảng đề tài đặc sắc trong hội hoạ Hồng Kông. Hai chữ <em>sơn thuỷ</em> có ý nghĩa triết lý thâm trầm của chúng, không chỉ đơn thuần <em>sơn</em> 山 là núi non, <em>thuỷ</em> 水 là sông nước.</p>
<p>Khổng Tử từng nói rằng: «Kẻ trí vui chơi nơi sông nước, kẻ nhân vui chơi nơi núi non. Kẻ trí hiếu động, kẻ nhân trầm tĩnh. Kẻ trí vui vẻ, kẻ nhân trường thọ.» 知(智)者樂水, 仁者樂山, 知(智)者動, 仁者靜, 知(智)者樂, 仁者壽 (Trí giả nhạo thuỷ, nhân giả nhạo sơn, trí giả động, nhân giả tĩnh, trí giả lạc, nhân giả thọ.– <em>Luận Ngữ</em> – Ung Dã).</p>
<p>Sông nước trôi chảy, linh động biến dịch không ngừng, tìm về trùng dương mênh mông. Sự trôi chảy không ngừng này tượng trưng bản thể của Đạo. Khổng Tử có lần đứng trên bờ sông, nhìn nước chảy, giác ngộ lý lẽ ấy, nên ngài tán thán: «Ôi, trôi chảy thế này, ngày đêm nó không hề ngừng nghỉ !» 逝者如斯夫不舍晝夜 (Thệ giả như tư phù, bất xả trú dạ ! – <em>Luận Ngữ</em> – Tử Hãn).</p>
<p>Do đó, kẻ trí tuệ thấu đạt lý lẽ của sự vật, linh hoạt tiến triển mãi không ngưng trệ, cũng linh động như bản tính của nước. Kẻ nhân ái yên ổn với nghĩa lý mà dày dặn kiên cố vững bền, cũng tĩnh như bản tính của núi. Động và tĩnh nói về bản thể, mà vui vẻ trường thọ là nói về hiệu quả đạt được.</p>
<div id="cc-m-textwithimage-5052448464">
<div><img id="cc-m-textwithimage-image-5052448464" title="" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131202bee9df80-ed51-460c-8f8a-691e6067d038.JPG" alt=" Ý nghĩa các biểu tượng trong hội hoạ Trung Quốc" /></div>
</div>
<p>Chủ đề nổi bật thứ hai là hoa điểu 花鳥(hoa và chim chóc). Về hoa, các văn nhân Hồng Kông thường gán cho từng loại hoa một đức tính, một ý nghĩa tượng trưng văn học nào đó, và các họa sĩ đã tiếp thu toàn bộ những quan niệm này. Chẳng hạn Chu Đôn Di 周惇頤 đời Tống từng nói: «Trong các loài hoa, cúc là kẻ ẩn dật, mẫu đơn là kẻ phú quý và sen là bậc quân tử vậy.» 菊花之隱逸者也牡丹花之富貴者也蓮花之君子者也(Cúc, hoa chi ẩn dật giả dã; mẫu đơn, hoa chi phú quý giả dã; liên, hoa chi quân tử giả dã).</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Quan niệm cúc là kẻ ẩn dật có lẽ phát xuất từ Đào Tiềm 陶潛 tức Đào Uyên Minh 陶淵明 đời Tấn, một thi sĩ vĩ đại, chán cảnh làm quan luồn cúi, treo áo từ quan, hưởng thú điền viên, vui cảnh nghèo, thích uống rượu chơi cúc và nhàn du. Người đời khen ông là bậc ẩn dật cao khiết. Trong bài Ẩm Tửu 飲酒 của ông có nhắc đến hoa cúc: «Hái cúc dưới giậu đông, thơ thới nhìn núi Nam.» 採菊東籬下悠然見南山 (Thái cúc đông ly hạ, du nhiên kiến Nam Sơn). Người ẩn sĩ này uống rượu ngắm cúc để quên cảnh náo nhiệt, trầm luân trong đời, cho nên hoa cúc cũng là biểu tượng của bậc quân tử ẩn dật lánh đời vậy. Đào Tiềm từng thốt rằng: «Hoa cúc mùa thu có sắc đẹp, phơi lộ nét anh tú, khiến ta quên tình buồn, lánh xa tình đời.» 秋菊有佳色裛露掇其英泛此忘憂物遠我遺世情 (Thu cúc hữu giai sắc, ấp lộ xuyết kỳ anh, phiếm thử vong ưu vật, viễn ngã di thế tình).</p>
<p>Người giàu có ưa chuộng màu sắc lộng lẫy rực rỡ của mẫu đơn. Mẫu đơn là loài hoa quý hiếm, chỉ có bậc quyền quý đài các mới chơi hoa này. Cho nên mẫu đơn là biểu tượng của sự giàu sang phú quý.</p>
<p>Hoa sen là cốt cách của bậc quân tử. Đẹp và ngát hương, gần bùn mà chẳng tanh bùn. Dù cuộc đời ô trọc, nhân tình ấm lạnh, bậc quân tử vẫn giữ được tiết tháo của mình, thơm tho và tinh khiết như đóa sen kia.</p>
<div id="cc-m-textwithimage-5052453964">
<div><img id="cc-m-textwithimage-image-5052453964" title="Tranh của Từ Vị (đời Minh)" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth201312024bc2d719-8089-4f43-aca1-d423032d9f53.JPG" alt=" Ý nghĩa các biểu tượng trong hội hoạ Trung Quốc" /></div>
<p>Tranh của Từ Vị (đời Minh)</p>
</div>
<p>Cổ nhân gọi tùng, trúc, mai là ba người bạn mùa lạnh (<em>tuế hàn tam hữu</em> 歲寒三友), bởi vì ba loại cây này dù mùa sương tuyết vẫn tươi tốt trong khi những loại cây khác hầu như cằn cỗi héo hon. Tính chịu lạnh của tùng, trúc, mai tượng trưng đức tính nhẫn nại của người quân tử, tự cường mãi không thôi, luôn trau giồi tài đức trước nghịch cảnh cuộc đời.</p>
<p>Mai, lan, cúc, trúc thường được gộp chung thành một cụm, xem như biểu tượng của bậc quân tử, nên cũng được gọi là «tứ quân tử» 四君子(bốn người quân tử). Mai nở vào mùa đông và xuân, chịu đựng lạnh lẽo. Lan kiều diễm mảnh mai, hương thơm thâm trầm. Trúc ngay thẳng, vô tâm, đầy tiết tháo. Cúc trải sương giá mà chẳng héo hon, có ý chí thách đố thiên nhiên. Hơn hai ngàn năm trước, thi nhân Khuất Nguyên thậm chí còn so sánh hoa lan với mỹ nhân rằng: «Thu lan ơi mườn mượt, cọng tía cùng lá xanh. Đầy nhà toàn người đẹp, riêng với ta đưa tình.» 秋蘭兮清清綠葉兮紫莖滿堂兮美人忽獨與余兮且成 (Thu lan hề thanh thanh, lục diệp hề tử hanh. Mãn đường hề mỹ nhân, hốt độc dữ dư hề thả thành). Hoa cúc trác việt siêu phàm, là biểu tượng của bậc quân tử ở ẩn mà trên đây đã đề cập. Đời Tống có ẩn sĩ Lâm Bô 林逋 yêu hoa mai đến độ không cần có vợ con, chỉ chuyên tâm trồng hoa mai và nuôi hạc. Người đời tặng cho ông câu <em>mai thê hạc tử</em> 梅妻鶴子 (hoa mai là vợ, chim hạc là con). Yêu trúc có thể kể đến Tô Thức. Ông nói: «Thà ăn không có thịt chứ không thể ở thiếu trúc.» 寧可食無肉不可居無竹 (Ninh khả thực vô nhục, bất khả cư vô trúc).</p>
<div id="cc-m-textwithimage-5052456864">
<div><img id="cc-m-textwithimage-image-5052456864" title="" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth2013120233a97ac9-6c7f-4929-bf4b-c4b264da33f7.JPG" alt=" Ý nghĩa các biểu tượng trong hội hoạ Trung Quốc" /></div>
</div>
<p>Không chỉ hoa, mà quả cũng mang ý nghĩa biểu tượng nữa. Chẳng hạn quả đào tượng trưng sự trường thọ; thí dụ tranh «Đào hiến thiên xuân»桃獻千春 (đào dâng nghìn tuổi xuân) vẽ ông lão cầm quả đào. Quả lựu tượng trưng cho sự đông con cái; thí dụ tranh «Lựu khai bách tử» 榴開百子(quả lựu mở sinh trăm con) vẽ ông lão cầm quả lựu bóc dở, cho trông thấy hạt. Quả phật thủ tượng trưng cho phúc; thí dụ tranh vẽ quả phật thủ (phúc) với quả đào (thọ) và quả lựu (đông con) là ngụ ý: đa phúc, đa thọ, đa nam tử. Quả quít tượng trưng sự tốt lành (cát). Ngay trong đời sống hằng ngày người ta cũng thích biếu xén nhau quít.</p>
<p>Hoa thường được vẽ chung với điểu. Chim hạc tượng trưng cho sự trường thọ. Người Hồng Kông tin rằng hạc sống đến ngàn năm (hạc thọ thiên tuế 鶴壽千歲). Hạc thường được vẽ chung với cây tùng (cũng ngụ ý trường thọ), nên tranh «Tùng hạc diên niên» 松鶴延年 (tùng và hạc sống lâu) được dùng để chúc thọ.</p>
<p>Thi nhân cho rằng chim én là loài chim nhỏ có cảm tình, mùa thu và mùa đông bay đi tìm cái ấm áp của miền nhiệt đới và mùa xuân quay về tổ cũ. «Xuân phong yến hỉ» 春風燕喜 (chim yến vui trong gió xuân) mô tả một đôi én về tổ trong cành liễu xanh phất phơ hay cành đào hồng thắm. Một bức tranh với đôi én hoặc một bức tranh với cặp hồng nhạn (vịt trời) hay đôi uyên ương bơi lội trong ao sen chính là biểu tượng tình nghĩa vợ chồng, gia đình khang lạc.</p>
<p>Tranh «Thập toàn báo hỉ» 十全報喜 vẽ mười con chim khách đậu trên phiến đá và trên cây tùng hót líu lo báo tin mừng (chim khách được tin tưởng là báo điềm lành nên tục gọi nó là «hỉ thước» 喜鵲), tranh để chúc sự nghiệp thành công.</p>
<p>Dưới cội mai vàng (biểu tượng của phúc) là đôi chim cun cút hoặc một đàn gà con cùng gà trống gà mái cũng là biểu tượng của ân nghĩa tào khang, quan hệ nhân luân. Tranh phụ đề «ân nghĩa tại sinh tiền» 恩義在生前 (ân nghĩa đối với nhau lúc còn sống) thật là cảm động và thâm trầm biết bao! Con gà mái với bầy con tượng trưng cho gia đình đông đúc, đầm ấm.</p>
<p>Con công tượng trưng cho sự bình an thịnh vượng. Chim phượng (thường gọi gộp là <em>phượng hoàng</em>, thực ra <em>phượng</em> 鳳 là con trống, <em>hoàng</em> 凰 là con mái) là linh điểu, tương truyền chim phượng xuất hiện là thánh nhân ra đời. Nhưng chim loan và chim phượng thì tượng trưng duyên nợ vợ chồng. Tranh «loan phượng hoà minh» 鸞鳳和鳴 (chim loan và chim phượng hoà chung tiếng hót) ngụ ý sự hoà thuận êm ấm của vợ chồng.</p>
<p>Một số động vật cũng có ý nghĩa biểu tượng. Rồng (long 龍 ), một con vật huyền thoại, là biểu tượng của vương quyền. Kỳ lân (<em>kỳ</em> 麒 là con đực, <em>lân</em> 麟 là con cái) tượng trưng nhân ái và thái bình. Con rùa (quy 龜) cũng là thần vật, tương truyền nó sống tới ngàn năm, nên tượng trưng sự trường thọ.</p>
<p>&nbsp;</p>
<div>
<div>
<div id="cc-m-imagesubtitle-5052468364"><img id="cc-m-imagesubtitle-image-5052468364" title="" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth201312029f68839d-6e5b-41e9-a891-ead16bbde553.JPG" alt=" Ý nghĩa các biểu tượng trong hội hoạ Trung Quốc" /></div>
</div>
<div></div>
</div>
<p>&nbsp;</p>
<p>Ngựa là một chủ đề quen thuộc. Dân gian cho rằng ngựa có đức tính trinh tiết, ý thức rõ quan hệ truyền chủng, không vi phạm cái mà luân lý loài người gọi là loạn luân. Như <em>Dịch Kinh</em> từ đời Chu đã ca ngợi là «Tẫn mã chi trinh» 牝馬之貞(đức trinh tiết của ngựa cái). Ngựa còn có đức tính trung thành, một đức tính mà Nho gia rất coi trọng trong các mối quan hệ xã hội. Tuy nhiên, trong thực tế, ngựa từ thời xa xưa có giá trị rất cao. Trong chiến tranh ở Hồng Kông cổ đại, ngựa giữ vai trò rất quan trọng có thể gọi là nền tảng của sức mạnh quân sự. Các kỵ binh du mục trên lưng các chiến mã thần tốc và dũng mãnh luôn là mối kinh hoàng cho binh quân của Hồng Kông. Trong giao thông vận tải thì ngựa là phương tiện nhanh chóng và hữu hiệu. Từ đời Thương người ta đã biết đánh xe ngựa tới nơi xa xôi để buôn bán. Ngoài giá trị quan trọng của ngựa trong vận tải và quân sự, người ta còn tìm thấy giá trị y học của ngựa, được mô tả trong <em>Bản Thảo Cương Mục</em> (xuất bản 1596) nữa. Cứ xem đời nay mà xét, ngày nay người ta xem những xe hơi hiện đại sang trọng là biểu tượng của giàu có thì ngày xưa ngựa chính là biểu tượng đó. Nói chung, ngựa xuất hiện trong tranh Hồng Kông như là biểu tượng của sự mau chóng và thành đạt. Thí dụ bức tranh có chủ đề phổ biến nhất là «mã đáo thành công» 馬到成功 thể hiện qua một bầy ngựa phi nước đại gió bụi mịt mù. Nguyên ý câu này là «Kỳ khai đắc thắng, mã đáo thành công» 旗開得勝馬到成功 (Cờ phất [làm hiệu thì] chiến thắng, ngựa quay về [báo tin] thành công). Ngày xưa khi xuất binh phải phất cờ hiệu, mà cờ đã phất rồi thì phải chiến thắng; tướng soái khi lấy đầu tướng giặc, chiến mã quay về tất báo tin thành công. Ý nghĩa câu «mã đáo thành công» ngày nay chỉ còn tượng trưng là tốc chiến tốc thắng. Và một bức tranh «mã đáo thành công» làm quà khai trương cho một cửa hiệu chỉ đơn giản tương tự như là «khai trương hồng phát» (mở cửa tiệm thì phát đạt lớn).</p>
<div id="cc-m-textwithimage-5052474464">
<div><img id="cc-m-textwithimage-image-5052474464" title="SONG THỌ - tranh Tề Bạch Thạch" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131202f7b16c97-5e3a-408b-ad07-d53f6d5c4f1f.JPG" alt=" Ý nghĩa các biểu tượng trong hội hoạ Trung Quốc" /></div>
<p>SONG THỌ – tranh Tề Bạch Thạch</p>
</div>
<p>Có những vật tưởng như bình thường nhưng cũng có ý nghĩa đặc biệt, thí dụ con cóc tía (thiềm thừ 蟾蜍) tượng trưng cho sự giàu có, can đảm, và cái gì quý báu, khó kiếm ra được. Con bướm (hồ điệp 蝴蝶) tượng trưng sự trùng điệp. Con mèo tượng trưng sống lâu. Con cá chép (lý ngư 鯉魚, cá hoá long, cá vượt vũ môn) tượng trưng thi đỗ, v.v…</p>
<p>Rồi sự kết hợp nhiều thứ khác nhau cũng có ngụ ý tổng hợp. Thí dụ hoa kết hợp với điểu, thảo trùng, cá, đá (tượng trưng sự vững chắc) và các khí vật khác (thí dụ cái bình hoa, ngụ ý an bình) làm tăng thêm thi ý cho tranh, thường đó là lời chúc nguyện cát tường.</p>
<p>Mẫu đơn phối hợp với cá lội là biểu tượng «Phú quý hữu dư» 富貴有餘 (phú quý dư dật) là lời chúc nguyện tốt đẹp vào ngày đầu năm. Mẫu đơn vẽ chung với khổng tước (chim công) mang tên «Khổng tước khai bình» 孔雀開屏 là tranh chúc mừng khai trương cửa tiệm. Hoa xuân điểm thêm vài cánh bướm, tạo sinh động cho tranh. Bướm ngụ ý là trùng điệp. Tranh mẫu đơn điểm thêm cánh bướm ngụ ý phú quý trùng điệp 富貴重疊. Hoặc trên cánh hoa vẽ con dế, cho ta hình dung tiếng thu đang về rồi với tiếng nhạc để râm ran đâu đây.</p>
<p>Như trên đã nói, thông qua ngôn ngữ (nhất là từ ngữ đồng âm hay cận âm) người ta sẽ liên tưởng hình vẽ này đến một sự vật nào đó với ý nghĩa biểu tượng nhất định trong tâm thức chung của mọi người.</p>
<div id="cc-m-textwithimage-5052477164">
<div><img id="cc-m-textwithimage-image-5052477164" title="" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131202113d7273-412b-4490-9513-4cb4cb37ce83.JPG" alt=" Ý nghĩa các biểu tượng trong hội hoạ Trung Quốc" /></div>
</div>
<p>– Bông hoa, chữ Hán là <em>hoa</em> 花 phát âm [huā] gần giống chữ <em>hoa</em> 華 (vinh hoa) [huá].</p>
<p>– Hoa sen, chữ Hán là <em>liên</em> 蓮 phát âm [lián] giống như chữ <em>liên</em> 連 (liên tục) [lián]; hoặc chữ Hán là <em>hà</em>荷 phát âm [hé] giống như chữ <em>hoà</em> 和 (hoà hợp) [hé].</p>
<p>– Quả thị hay cành thị, chữ Hán là <em>thị</em> 柿 phát âm [shì] giống như chữ <em>sự</em> 事 (sự việc) [shì].</p>
<p>– Quả lựu, chữ Hán là <em>lựu</em> 榴 phát âm [liú] giống như chữ <em>lưu</em> 流 (trôi chảy, lưu truyền) [liú].</p>
<p>– Cây phong, chữ Hán là <em>phong</em> 楓 phát âm [fēng] giống như chữ <em>phong</em> 封 (ban phong) [fēng].</p>
<p>– Cây ngô đồng, chữ Hán là <em>đồng</em> 桐 phát âm [tóng] giống như chữ <em>đồng</em> 同 (cùng với) [tóng].</p>
<p>– Cành mai, chữ Hán là <em>mai</em> 梅 phát âm [méi] gần giống chữ <em>mỗi</em> 每 (mỗi thứ, mỗi người) [měi].</p>
<p>– Cành trúc, chữ Hán là <em>trúc</em> 竹 phát âm [zhú] gần giống chữ <em>chúc</em> 祝 (chúc tụng) [zhù].</p>
<p>– Con gà, chữ Hán là <em>kê</em> 雞 phát âm [ji] gần như chữ<em>cát</em> 吉 (tốt lành) [jí].</p>
<p>– Con cá, chữ Hán là <em>ngư</em> 魚 phát âm [yú] giống như chữ <em>dư</em> 餘 (dư thừa, dư dật) [yú].</p>
<p>– Con dơi, chữ Hán là <em>bức</em> 蝠 phát âm [fú] giống như chữ <em>phúc</em> 福 (hạnh phúc) [fú]. Vẽ 5 con dơi tức là <em>ngũ bức</em> 五蝠 <em>,</em> phát âm [wǔ fú] giống như <em>ngũ phúc</em> 五福. Con dơi vẽ lộn ngược tức là <em>đảo bức</em> 倒 蝠 , phát âm [dào fú] giống như <em>đáo phúc</em> 到福 (phúc đến).</p>
<div id="cc-m-textwithimage-5052479464">
<div><img id="cc-m-textwithimage-image-5052479464" title="" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131202528827e6-bdc5-4f01-aab9-78d776880c0f.JPG" alt=" Ý nghĩa các biểu tượng trong hội hoạ Trung Quốc" /></div>
</div>
<p>– Con mèo, chữ Hán là <em>miêu</em> 猫 phát âm [máo] gần giống chữ <em>mạo</em> 耄 (già 80 tuổi) [mào].</p>
<p>– Con bướm, chữ Hán là <em>điệp</em> 蝶 phát âm [dié] giống như chữ <em>điệt</em> 耋 (già 70 tuổi) [dié] và chữ <em>điệp</em> 疊(trùng điệp) [dié].</p>
<p>– Con hươu, con nai, chữ Hán là <em>lộc</em> 鹿 phát âm [lù] giống như chữ <em>lộc</em> 禄 (bổng lộc) [lù].</p>
<p>– Con vượn, con khỉ, chữ Hán là <em>hầu</em> 猴 phát âm [hóu] giống như chữ <em>hầu</em> 侯 (tước hầu) [hóu].</p>
<p>– Cái quạt, chữ Hán là <em>phiến</em> 扇 phát âm [shàn] giống như chữ <em>thiện</em> 善 (tốt lành) [shàn].</p>
<p>– Ống sáo, chữ Hán là <em>sinh</em> 笙 phát âm [shēng] giống như chữ <em>sinh</em> 生 (sinh nở) [shēng] và chữ<em>thăng</em> 升 (bay lên) [sheng].</p>
<p>– Cái lục bình, chữ Hán là <em>bình</em> 瓶 phát âm [píng] giống như chữ <em>bình</em> 平 (bình an) [píng].</p>
<p>– Cái mũ, cái mão, chữ Hán là <em>quan</em> 冠 phát âm [guān] giống như chữ <em>quan</em> 官 (ông quan) [guan].</p>
<p>– Ngọc như ý đúng ý nghĩa là <em>như ý</em> 如意 [rú yì].</p>
<p>– Số 9, chữ Hán là <em>cửu</em> 九 phát âm [jiǔ] giống như chữ <em>cửu</em> 久 (lâu dài) [jiǔ].</p>
<p>– v.v…</p>
<div id="cc-m-textwithimage-5052485064">
<div><img id="cc-m-textwithimage-image-5052485064" title="" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131202a2250091-dfc3-4a68-b82c-5e0904db5fe5.JPG" alt=" Ý nghĩa các biểu tượng trong hội hoạ Trung Quốc" /></div>
</div>
<p>Phối hợp nhiều thứ với nhau, tranh vẽ mang ý nghĩa biểu tượng tổng hợp. Thí dụ như:</p>
<p>1. Tranh vẽ <em>quả đào với 5 con dơi</em> ngụ ý Ngũ Phúc Lâm Môn 五福臨門. Ngũ Phúc là: phú 富(giàu), thọ壽 (sống lâu), khang ninh 康寧 (khỏe mạnh), du hiếu đức 攸好德 (yêu nhân đức), khảo chung mệnh考終命 (chết êm ái).</p>
<p>2. Tranh vẽ <em>quả phật thủ với con bướm</em> ngụ ý sống lâu đến 70-80 tuổi, vì quả phật thủ tượng trưng cho thọ hay phúc, con bướm (điệp) ngụ ý già 70 tuổi (điệt耋 ) hay trùng điệp (điệp 疊), tức là phúc thọ trùng điệp 福壽重疊.</p>
<p>3. Tranh vẽ <em>quả phật thủ</em> (phúc) <em>với quả đào</em> (thọ) <em>và quả lựu</em> (đông con) ngụ ý tam đa 三多: đa phúc 多福(nhiều phúc), đa thọ 多壽 (rất thọ), đa nam tử 多男子(nhiều con trai).</p>
<p>4. Tranh vẽ <em>quả phật thủ, quả đào, quả lựu với 9 miếng ngọc như ý</em> ngụ ý «tam đa cửu như»三多九如 nghĩa là chúc cho phúc thọ, con cháu đầy đàn, bền vững.</p>
<p>5. Tranh vẽ <em>quả lựu đã bóc vỏ một phần để lộ hạt ra</em> ngụ ý «lựu khai bách tử» 榴開百子 (lựu mở ra sinh trăm con).</p>
<p>6. Tranh vẽ <em>quả lựu với 5 cậu bé con</em> ngụ ý mong cho con cái sau này đều hiển đạt như 5 con của ông Đậu Yên Sơn đời Tống.</p>
<p>7. Tranh vẽ <em>quả lựu</em> 榴 (ngụ ý lưu truyền 流) <em>với cái mũ</em> 冠 (ngụ ý tước quan 官), <em>cái đai lưng</em>(đái 帶), <em>cái thuyền</em> (<em>thuyền</em> 船 <em>,</em> đọc giống <em>truyền</em> 傳 ) ngụ ý mong cho «Quan đái truyền lưu»官帶傳流 (đai lưng của quan được lưu truyền, tức là được phong quan tước nhiều thế hệ trong gia tộc).</p>
<div id="cc-m-textwithimage-5052493164">
<div><img id="cc-m-textwithimage-image-5052493164" title="" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth201312028ceab940-2c13-42fb-8543-75ce38eb24f0.JPG" alt=" Ý nghĩa các biểu tượng trong hội hoạ Trung Quốc" /></div>
</div>
<p>8. Tranh vẽ <em>hai quả thị</em> (ngụ ý sự việc) <em>với ngọc như ý</em> là mong «Sự sự như ý» 事事如意 (vạn sự như ý).</p>
<p>9. Tranh vẽ <em>cây ngô đồng</em> 桐 (đồng âm với <em>đồng</em> 同 : cùng với) <em>với con hươu</em> (<em>lộc</em>鹿 , đồng âm với <em>lộc</em> 禄: bổng lộc) <em>và chim hạc</em> 鶴 (trường thọ) là ngụ ý «Lộc thọ đồng lộc hạc» 禄壽同鹿鶴 (được bổng lộc và sống lâu như hươu, hạc).</p>
<p>10. Tranh vẽ <em>chim hỉ thước</em> 喜鵲 (vui vẻ)<em>đậu cây ngô đồng</em> 桐 (đồng âm với <em>đồng</em>同 : cùng với) là ngụ ý «đồng hỉ» 同喜(mọi người cùng vui vẻ).</p>
<p>11. Tranh vẽ <em>đứa trẻ cỡi trên lưng con kỳ lân tay cầm bông sen</em> (liên 蓮 ) <em>và ống sáo</em> (sinh 笙) là ngụ ý «Liên sinh quý tử» 連生貴子 (liên tiếp sinh quý tử).</p>
<p>12. Tranh vẽ <em>4 đứa trẻ: đứa cầm cành táo</em> (<em>tảo</em> 棗 <em>,</em> đồng âm với <em>tảo</em> 早: sớm), <em>đứa cầm ống sáo</em> (sinh 笙 ), <em>đứa cầm cái ấn quan văn, đứa cầm cái kích quan võ</em> là ngụ ý mong: sớm sinh con cái sau này thành quan văn hay quan võ.</p>
<p>13. Tranh vẽ <em>đứa trẻ ăn mặc sang trọng</em> (phú 富), <em>cổ đeo cái khánh</em> 罄 (đồng âm với <em>khánh</em> 慶, hiểu là may mắn hạnh phúc) <em>đang ngắm bầy cá vàng</em> (<em>ngư</em> 魚, hiểu là dư thừa) là ngụ ý mong: giàu có, đông con, hạnh phúc có thừa.</p>
<p>14. Tranh vẽ <em>chim hỉ thước</em> 喜鵲 <em>đậu cành mai</em> 梅 (đồng âm với <em>mỗi</em> 每 : mọi người) <em>cành trúc</em>竹 (đồng âm với <em>chúc</em> 祝: chúc mừng) là ngụ ý mong cho mọi người đều vui vẻ.</p>
<p>15. Tranh vẽ <em>trúc mai</em> 竹梅 ngụ ý mọi người may mắn.</p>
<p>16. Tranh vẽ <em>mai, trúc với con mèo và con bướm</em> là ngụ ý mong mọi người sống lâu đến 70-80 tuổi.<img title="Ý nghĩa các biểu tượng trong hội hoạ Trung Quốc" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth2013120243d898f9-0dcb-4ab1-9218-c131cf16524b.JPG" alt=" Ý nghĩa các biểu tượng trong hội hoạ Trung Quốc" /></p>
<p>17. Tranh vẽ <em>mẫu đơn</em> 牡丹 (phú quý) <em>với con gà</em> (<em>kê</em>雞 đồng âm với <em>cát</em> 吉: tốt lành) ngụ ý «phú quý cát tường» 富貴吉祥.</p>
<p>18. Tranh vẽ <em>con khỉ</em> (hầu 猴) <em>trèo cây phong</em> (phong楓) <em>có cái ấn</em> 印 <em>cột vào cành cây</em> ngụ ý «ấn phong hầu» 印封侯, tức là được thăng quan tiến chức nói chung.</p>
<p>v.v…</p>
<div><img id="cc-m-textwithimage-image-5052497764" title="" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth201312020676c533-bae2-465f-9df2-bc3412187ca8.JPG" alt=" Ý nghĩa các biểu tượng trong hội hoạ Trung Quốc" /></div>
<p>Trên đây là một số minh hoạ tiêu biểu. Tóm lại, ý nghĩa biểu tượng của loại tranh này cho thấy ba chủ ý của tác giả: 1- gởi gấm ý chí; 2- ước nguyện mọi tốt lành cho bản thân; 3- và cầu chúc hạnh phúc cho người khác. Với chủ ý thứ ba, các bức tranh này thường được người ta làm quà tặng nhau vào những dịp mừng thọ hay những dịp đặc biệt như ngày đầu năm, mà những lời chúc nguyện rồi sẽ như chồi non lộc mới nảy nở thành những đoá hoa rực rỡ tươi thắm trong</p>
<p>Tác giả : Lê Anh Minh</p>
</div>
</div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://suutamcovat.com/y-nghia-cua-cac-bieu-tuong-trong-nen-hoi-hoa-trung-quoc.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đi tìm ý nghĩa của hình tượng linh vật Xi Vẫn trong văn hóa Việt Nam</title>
		<link>http://suutamcovat.com/di-tim-y-nghia-cua-hinh-tuong-linh-vat-xi-van-trong-van-hoa-viet-nam.html</link>
		<comments>http://suutamcovat.com/di-tim-y-nghia-cua-hinh-tuong-linh-vat-xi-van-trong-van-hoa-viet-nam.html#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 19 Mar 2016 02:19:46 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Điển Tích Cổ]]></category>
		<category><![CDATA[bản đồ phố cổ]]></category>
		<category><![CDATA[bộ sưu tập đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[buôn bán đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[buôn đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[chợ cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[chơi đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[co vat gom su]]></category>
		<category><![CDATA[cổ vật tinh hoa]]></category>
		<category><![CDATA[cổ vật trung hoa]]></category>
		<category><![CDATA[giá tiền cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[giá đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[giá đồ cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[giá đồ gốm sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[gốm sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[gốm sứ cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[hội đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[mua bán cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[mua bán đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[mua bán đồ cổ xưa]]></category>
		<category><![CDATA[mua đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[nhà sưu tầm cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[phố mua bán đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[phố đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[săn đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[sưu tầm đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[sưu tập đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[thu mua đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[vật cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[web đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ bằng đồng]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ các loại]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ gốm sứ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ mua bán]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ thời lý]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ trung hoa]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ việt]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ xưa]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ sành sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ sứ cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[đồ đồng cổ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://suutamcovat.com/?p=376</guid>
		<description><![CDATA[Trong bài thơ Diên Hựu Tự, thiền sư Huyền Quang có nhắc đến tên một loài thú lạ “Xi Vẫn”: Xi vẫn đảo miên phương kính lãnh Tháp quang song trĩ ngọc tiêm hàn (Hình xi vẫn ngủ ngược trên gương nước lạnh Đôi bóng tháp thon vút như ngón tay ngọc giá băng) Vậy <a href="http://suutamcovat.com/di-tim-y-nghia-cua-hinh-tuong-linh-vat-xi-van-trong-van-hoa-viet-nam.html#more-'" class="more-link">more »</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<div class="entry clearfix">
<p><strong>Trong bài thơ Diên Hựu Tự, thiền sư Huyền Quang có nhắc đến tên một loài thú lạ “Xi Vẫn”:</strong></p>
<p><strong>Xi vẫn đảo miên phương kính lãnh</strong><br />
<strong>Tháp quang song trĩ ngọc tiêm hàn</strong></p>
<p><strong>(Hình xi vẫn ngủ ngược trên gương nước lạnh</strong><br />
<strong>Đôi bóng tháp thon vút như ngón tay ngọc giá băng)</strong></p>
<p>Vậy “Xi Vẫn” là con vật như thế nào? Chúng có xuất xứ từ đâu và ý nghĩa biểu tượng của chúng ra sao?</p>
<p>Xi Vẫn là một trong những đứa con của rồng. Theo truyền thuyết kể lại, rồng sinh ra chín đứa con nhưng không con nào trở thành rồng cả. Chín con rồng được gọi bằng những cái tên khác nhau là Bị Hí, Xi Vẫn, Bồ Lao, Bệ Ngạn, Thao Thiết, Công Phúc,… Xi Vẫn là con thứ hai mang hình dáng đầu rồng đuôi cá.</p>
<div class="_fUc irc_mimg"><img class="irc_mi" src="/images/post/2016/04/18/18//1859.jpg" alt="" width="240" height="159" /></div>
<p><em>Xi Vẫn là con thứ hai của rồng, thường được đắp trên đầu đình, mái nhà, công trình kiến trúc cổ…</em></p>
<p>Biểu tượng Xi Vẫn có những chuyển biến khác nhau ở từng thời kỳ. Thời Lý – Trần, Xi Vẫn được đặc tả ở râu, bờm, lưỡi và không có thân hay đuôi; miệng không há to dữ dằn như ở Trung Hoa mà luôn ngậm một viên hỏa châu. Phong cách mỹ thuật duyên dáng, tinh tế ấy phần nào thể hiện tài hoa của con người Đại Việt vào thời kỳ đó. Xi Vẫn thời Lê chịu ảnh hưởng của phong cách nhà Minh. Đến Nguyễn, Xi Vẫn đã được “long hóa”, hoặc “thú hóa” để trở thành hình tượng con vật đầu rồng, có bốn chân với móng vuốt sắc nhọn, đôi khi có những vầng mây tỏa ra từ thân và đuôi.</p>
<p>Ngày nay, chúng ta có thể bắt gặp hình ảnh Xi Vẫn được đắp trên đầu đình, mái nhà, các công trình kiến trúc cổ tôn nghiêm như Chùa Một Cột, nhà Bát Giác ở chùa Láng, đình làng Mông Phụ (Đường Lâm)… mà không xuất hiện trên các ngôi nhà dân.</p>
<p><img title="Đi tìm ý nghĩa hình tượng linh vật Xi Vẫn trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//635127634153864573.jpg.ashx" alt=" Đi tìm ý nghĩa hình tượng linh vật Xi Vẫn trong văn hóa Việt Nam" /><br />
<em>Xi Vẫn ở chùa Một Cột</em></p>
<p>Lý giải về điều này, theo TS Trần Trọng Dương, Viện Nghiên cứu Hán Nôm thì Xi Vẫn là con vật thiêng nên chỉ đắp trên các công trình kiến trúc lớn, có ý nghĩa tôn giáo như đền, miếu, đình…, còn nhà dân chỉ là nhà dân dụng để ở. Mặt khác ở các ngôi đình, đền, miếu… thường được dựng bằng gỗ nên hỏa hoạn rất dễ xảy ra, mà Xi Vẫn theo truyền thuyết lại là con vật có khả năng phun mưa. Đắp Xi Vẫn trên các công trình gỗ đó với ý nghĩa tránh hỏa tai.</p>
<p>theo vietpictures</p>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://suutamcovat.com/di-tim-y-nghia-cua-hinh-tuong-linh-vat-xi-van-trong-van-hoa-viet-nam.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Ngắm nhìn bữc Tuế hàn tam hữu (Tùng, Trúc, Mai)</title>
		<link>http://suutamcovat.com/ngam-nhin-buc-tue-han-tam-huu-tung-truc-mai.html</link>
		<comments>http://suutamcovat.com/ngam-nhin-buc-tue-han-tam-huu-tung-truc-mai.html#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 19 Mar 2016 02:19:16 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Điển Tích Cổ]]></category>
		<category><![CDATA[bản đồ phố cổ]]></category>
		<category><![CDATA[bộ sưu tập đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[buôn bán đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[buôn đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[chợ cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[chơi đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[co vat gom su]]></category>
		<category><![CDATA[cổ vật tinh hoa]]></category>
		<category><![CDATA[cổ vật trung hoa]]></category>
		<category><![CDATA[giá tiền cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[giá đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[giá đồ cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[giá đồ gốm sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[gốm sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[gốm sứ cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[hội đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[mua bán cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[mua bán đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[mua bán đồ cổ xưa]]></category>
		<category><![CDATA[mua đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[nhà sưu tầm cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[phố mua bán đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[phố đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[săn đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[sưu tầm đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[sưu tập đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[thu mua đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[vật cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[web đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ bằng đồng]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ các loại]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ gốm sứ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ mua bán]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ thời lý]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ trung hoa]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ việt]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ xưa]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ sành sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ sứ cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[đồ đồng cổ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://suutamcovat.com/?p=377</guid>
		<description><![CDATA[Toàn thư trí tuệ về lạc thú cuộc sống của người Hồng Kông cổ đại. Tuế hàn tam hữu (Tùng, Trúc, Mai) Tùng, trúc, mai là hoa mộc được cổ nhân đặc biệt thích thú, được mệnh danh là Tuế hàn tam hữu (Ba bạn hữu trong gió rét). Kỳ lạ là, một mộc, một <a href="http://suutamcovat.com/ngam-nhin-buc-tue-han-tam-huu-tung-truc-mai.html#more-'" class="more-link">more »</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<div class="entry clearfix">
<div class="_fUc irc_mimg"><img class="irc_mi" src="/images/post/2016/04/18/18//tuvi.jpg" alt="" width="400" height="307" /></div>
<p><strong>Toàn thư trí tuệ về lạc thú cuộc sống của người Hồng Kông cổ đại.<br />
Tuế hàn tam hữu (Tùng, Trúc, Mai)</strong></p>
<p>Tùng, trúc, mai là hoa mộc được cổ nhân đặc biệt thích thú, được mệnh danh là Tuế hàn tam hữu (Ba bạn hữu trong gió rét). Kỳ lạ là, một mộc, một trúc, một hoa mà lại được liệt vào là “hữu”, kỳ thực nó biểu thị một tình cảm độc đáo của người Hồng Kông. Từ danh xưng của từng loại có thể nhận ra là, ba loại không giống nhau về tính chất được gọi là “hữu” vì, thứ nhất gió bắc lạnh thấu xương, vạn vật đều khô héo, chỉ độc nhất có ba loại này ngênh phong đón tuyết, trù phú tươi tốt, tiếp thêm sức sống cho nhân gian, làm bạn với con người vượt qua rét mướt khắc nghiệt, mang lại cảm hứng sinh mệnh cho con người, thứ hai là biểu thị thái độ thân kính của cổ nhân đối với ba loại hoa mộc này: Một mặt chúng vì nhau, hô ứng tương hỗ lẫn nhau, vẫy gọi nhau trong giá rét, nhưng trong mùa đông lạnh giá chúng lại bảo lưu được sắc thái độc đáo dị biệt của mình, hơn nữa, chúng lại là bạn của con người, từ trên thân thể chúng, con người có thể cảm nhận được sự tuôn chảy của lực sinh mệnh trong mùa đông giá lạnh.</p>
<p>Nhưng ba loại này rút cuộc lại có nhưng thuộc tính không giống nhau. Từ trong những thuộc tính không giống nhau của chúng, cổ nhân lại thể ngộ ra rất nhiều những cảm thụ khác nhau, biểu thị một cách sâu sắc góc nhìn độc đáo của dân tộc Hoa Hạ đối với thú tiêu khiển nhân sinh.</p>
<p><strong>Tùng.</strong></p>
<p>Lịch sử trồng hoa mộc của dân tộc Hoa Hạ có từ lâu đời. Trong Giáp Cốt Văn đã tìm thấy ba chữ : Viên, Phố ( vườn), hựu ( vườn thú). Cổ nhân chủ yếu trồng hai loại hoa mộc: một là ngũ cốc để đảm bảo cuộc sống vật chất sinh tồn, hai là hoa mộc, trồng vườn với diện tích nhỏ, dùng làm thuốc, lấy hoa tế lễ và thưởng ngoạn. Tùng là “hữu” thứ nhất trong Tuế hàn tam hữu, nó thuộc một trong những loại hoa mộc được trồng sớm nhất. Viên tức chỉ vườn nhà, cũng chi Tẩm viên. Tùng và bách đều không rụng lá, cao to vững trãi, cổ nhân thường gọi kép tùng bách. Trong quan niệm của cổ nhân, Tùng có những điểm độc đáo sau.</p>
<p>1. Tùng tượng trưng khí chất người quân tử. Nếu như các loại cây khác bị chôn vui trong giá lạnh, thì ngoài Trúc, mai, tùng hiên ngang nghênh phong đón gió. Vì thế cổ nhân cho rằng Tùng có khí chất của người quân Tử. Sở thư viết: “ Tùng là quân tử, mơ thấy tùng là nhìn thấy quân tử”</p>
<p>2. Cổ nhân cho rằng Tùng bách cũng có những phẩm chất ưu tú như con người. Lễ ký nói: “ Tùng bách có tâm như con người nên bốn mùa màu lá không thay đổi”. Đặc biệt, Tùng bách không két đất. Quốc ngữ nói: Trên núi cao, không sinh thảo mộc, là đất của tùng bách, đất không phì nhiêu”. Chính vì không kén đất, lại xanh tốt quanh năm nên cổ nhân chọn tùng bách tượng trưng cho lý tưởng xanh hoá đạo lộ. Sử ký ghi: Tần Thuỷ Hoàng thống nhất thiên hạ, tu sửa đường xá, đường rộng năm mươi bước, hai bên xây tường, cứ cách ba trượng trồng một cây tùng xanh. Tính chất lý tưỏng của tùng, xanh bốn mùa, làm đẹp cho đời, tượng trưng cho đạo của người quân tử.</p>
<p>3. Vì tùng tứ thời xanh tươi nên cổ nhân cho rằng, chúng lại tượng trung để cổ nhân ký thác sự nhớ thương. Thời Xuân thu cổ nhân thường trồng cây tùng bên cạnh mộ của tiền nhân. Tùng trồng bên cạnh mộ tổ tiên không chỉ tương trưng cho tinh thần hiên ngang, trường tồn mà còn thể hiện sự tương thông giữa người chết và tùng, hoặc tinh linh người chết nhập vào thân thể cây tùng.</p>
<p>4. Vì những đặc tính trên nên tùng được coi là cây linh thiêng, có thể hoá nhập, biến thành con vật, hoặc ăn quả tùng có thể trường sinh bất lão. Trong “ Cao cao sơn ký” nói: trên vùng đất cao có một cây đại thụ tùng, không biết mấy nghìn năm tuổi, nhưng tinh linh của nó có thể biến thành Trâu xanh và rùa. Nếu như ăn được quả của cây đại thụ tùng có thể trường sinh bất lão”</p>
<p>5. Cổ nhân cho rằng bách thụ là âm mộc. cho nên chữ bách có bộ “bạch” đi cùng. Bạch là Tây phương chính sắc. Bách hướng đến “âm” là chỉ Tây , không giống như các cây khác đều hướng đến Dương, vì vậy thụ bách là “cây có Trinh đức”. Cổ nhân khi cư táng, thường trồng bên mộ tiền nhân bách thụ càng trở nên phổ biến. Thời Hán, Lý Tuần Tao, khi cha mẹ chết liên tục 6 năm liên ở bên mộ cha mẹ tự thân gánh đất trồng cây bách. Hán Vũ Đế khi xây dựng Bá Lăng, không giống như các hoàng đế khác đắp đất cao thành gò núi, mà trồng dầy đặc xung quanh lăng mộ toàn là bách. Trồng bách trên mộ, trực tiếp tượng trưng cho danh tiếng và công đức của tổ tiên, đồng thời người sau cũng gữi gắm tấm lòng nhớ thương đối với tổ tiên. Đối với một đất nước nước lấy hiếu trị quốc như Hồng Kông, thì ý nghĩa này vô cùng to lớn. Mộ bách hiên ngang lẫm liệt, bất khả xâm phạm.</p>
<p>Tóm lại tôn sùng bách thể hiện một cách sung mãn khí chất nho gia. Nó trở thành một bộ phận trọng yếu trong hành vi sinh mệnh của cổ nhân, cắm rễ vào chiều sâu tâm linh cổ nhân. Vì vậy, người phương đông lấy màu trắng làm thói quen biểu thị sự bi ai và trang trọng. Từ phương diễn này có thể tìm ra đáp án cho mối thâm tình kỳ lạ, cố kết giữa tùng bách và cổ nhân. Tạ Huệ Liên ca ngời , tùng duy nhất là cây Linh mộc</p>
<p><strong>Trúc.</strong><br />
<img class="alignnone size-medium wp-image-22" title="Tuế hàn tam hữu (Tùng, Trúc, Mai)" src="/images/post/2016/04/18/18//tuvi-300x230.jpg" alt="tuvi 300x230 Tuế hàn tam hữu (Tùng, Trúc, Mai)" width="300" height="230" /><br />
1. Trúc và công năng triết học; 2. Trúc và người quân tử</p>
<p>1. Trúc và công năng triết học.</p>
<p>Thởi Nam triều lục tống, trong Trúc phổ viết: Trong thực vật, có loài viết là Trúc: bất cương bất nhu, phi thảơ phi mộc, tiểu dị không thực, đại đồng tiết mục ( tạm dịch: không cứng không mềm, không phải là thảo, không phải là mộc, dị biệt ở tâm không, giống nhau ở các tiết, mục”. Đây chính là đặc điểm của trúc. Như vậy, thứ nhất, Trúc không thuộc loại hoa cỏ, cũng không thuôc họ hàng nhà thụ mộc, chúng khu biệt nhau ở chỗ tâm địa thành thực, có tâm không, nhưng tương đồng đều có tiết, dóng, đốt đều nhau. Giang Yêm, trong Linh khâu trúc phú tiến thêm một bước chỉ ra đặc trưng của trúc: Trúc : phi anh phi dược, phi hương phi phức, nhi trân khoá tiên thảo, bảo du linh mộc ( tạm dịch: không phải hoa, không phải dược, không có hương không có phức, mà quý giá hơn tiên thảo, quý giá hơn linh mộc). Vậy, phẩm đức nào của trúc có mối liên hệ với người quân tử. Thời Tấn, trong Trúc Phú ( tác giả họ Giang, chưa tra ra tên) viết: sở dĩ trúc có công năng triết học vì trúc vốn có :dung mạo rất thuần khiết tựa tự nhiên, trong trống rỗng giống như Đạo(Đạo gia), thân tròn tựa như trời”. Bạch Cư Dị trong Dưỡng Trúc ký viết: Trúc tựa người hiền ở chỗ nào: Trúc vốn kiên cố (hiên ngang, cố định), cố định thuộc đức của thụ (cây), người quân tử nhìn thấy gốc, vì vậy xây kiến lập mà không nhổ; Trúc trực tính, trực lấy để lập thân, quân tử kiến tính, trong suy nghĩ độc lập, không ỷ lại người khác; Trúc tâm không, không là thể của đạo, quân tử kiến tâm, nguyên tắc trong suy nghĩ cần cảm thụ cái hư; Trúc tiết trinh, trinh để lập chí, quân tử kiến tiết, nguyên tắc phải rèn luyện”</p>
<p>Như vậy, từ bốn thuộc tính : bản, tính, tâm, tiết có thể dễ dàng thấy rằng phẩm tính của trúc và người quân tử là tương đồng</p>
<p>2. Trúc và người quân tử.</p>
<p>Do phẩm cách của trúc và người quân tử có quan hệ mật thiết như vây, nên trong văn nhân sỹ đại phu từ cổ chí kim, có rất nhiều người mê trúc, say trúc, thậm chí nghiện trúc, coi trúc như sinh mạng của mình. Vương Duy thường thường xem trúc đến bần gia ( xem trúc đên mức nghèo đói). Mai Nghiêu Thần nói: mua sơn tất phải mua tuyền (nước suối trong), trồng cây tất phải trồng trúc. Tô Đông Pha Ninh khả thực vô nhục, bất khả cư vô trúc ( có thể ăn không có thịt, nhưng sống không thể thiếu trúc). Trong mấy nghìn năm xã hội phong kiến Hồng Kông, văn nhân và trúc còn có mối quan hệ với cá, thủy. Trong cuộc sống, nếu như không có trúc, văn nhân khó mà là văn nhân bình thường. Nếu ở trong rừng trúc, văn nhân được ngưng tụ trong cảnh giới khí vị vô cùng đặc biệt.</p>
<p>Trong cuộc sống, văn nhân con coi trúc như sinh mạng của mình. Trúc trở thành vật không thể rời xa trong cuộc sống của văn nhân, trúc như vây quanh cuộc sống của văn nhân. Vương Tử Du, thị trúc như mệnh ( xem trọng trúc như mệnh). Có một lần, ông mược tạm được một căn phòng, vừa sắp xếp hành lý xong, ông gọi người đem trúc đến trồng sau phòng . Có người hỏi ông, ở tạm làm gì mà phiền phức vậy, ông chỉ trúc mà trả lời, một ngày có thể sống không quân tử được không. Vương Tử Du yêu trúc đếm mực cuồng si. Có lần ông đi trên đường, nhìn thấy một gia đình có rừng trúc rất đẹp, ông liền dừng xe, chủ nhà biết được đại danh của Vương Tử Du bèn sai người bày tiệc rượu. ông liền chạy đến rừng trúc, đi lại nhìn ngắm, thưởng thức rừng trúc, ngâm vịnh rất lâu, sau đó đi luôn. Chủ nhà bất ngờ, rất bực tức, phái nô bộc đóng cửa lớn, không cho ông ra. Lúc này Vương Tử Du mới tỉnh trở lại: Tự mình ngẫm ngợi về Trúc, không thèm nói với chủ nhà một câu. Vương Tử Du trở thành người yêu trúc đến mức quồng nhiệt, hay còn gọi là mắc loại bệnh trúc tích ( nghiện trúc). Đời nhà Thanh có một trong dương châu bát quái nổi tiếng là Trịnh Bản Kiều. Trịnh Bản Kiều được mệnh danh là trúc nhân hay trúc ông. Trong sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật của ông, trừ một sô ít là Lan, mai, cúc ra, chủ yếu đều là Trúc. Ông ăn cũng có trúc bên cạnh, ở có trúc bên cạnh, trồng toàn là trúc, xem cũng xem trúc. vẽ chủ yếu vẽ trúc. Với Trịnh Bản Kiều, người và trúc, trúc và hoạ hợp thành nhất thể, trở thành một người tự nhiên.</p>
<p>Như vậy, văn nhân sỹ đại phu cổ đại, không chỉ coi trúc là bạn, mà trúc đã trở thành một phần của cuộc sống, thậm chỉ với một số văn nhân trúc chính là sinh mệnh., sinh mệnh chính là trúc.</p>
<p><strong>Mai.</strong></p>
<p>Trong tuế hàn tam hữu, cổ nhân xếp Mai ở vị trí thứ ba, bởi vì, tùng và trúc bốn mùa đều xanh tươi, duy nhất chỉ có Mai, nở hoa vào đúng lúc mùa đông giá rét nhất, báo hiệu lũ hoa về. Mai mà cổ nhân thường ngâm vịnh, có ba loại: Dương mai, mai vàng và mai. Nói chặt chẽ hơn, chỉ có loại thứ ba mới là Mai – một trong tuế hàn tam hữu. Cổ nhân cho rằng, mai nở hoa sớm, nó giống như là người bạn nở giữa mùa đông cô đơn để mau chóng đến làm bạn với con người, vì vậy cổ nhân hết sức thân thiết đối với Mai.: Mai hung sung tuyết lai tương kiến ( Mai phá băng tuyết để tương kiến với con người). Đồng thời càng nhiệt tình hơn nữa gọi mai là “hữu” là bởi Mai lại là loại nở hoa đầu tiên trong muôn hoa: mai hoa đặc tảo, thiên năng thức xuân ( mai nở đặc biệt sớm, có thể biết được mùa xuân). Vì thế cổ nhân cho rằng Mai là quân tử thanh cao và anh hùng. Mai giống như trúc, tức là một “hữu” trong tuế hàn tam hữu, đồng thời mai lại là một thành viên trong hoa trung tứ quân tử ( chú ý: từ bằng hữu là chỉ bạn bè học cùng thầy, cùng chí hướng. Trong đó, bằng là nhiều bạn học cùng một thầy, nhưng không có nghĩa là hữu, cùng chí hướng với nhau gọi là hữu. Mai, trúc, tùng đều là hữu là vì thế),</p>
<p>Cổ nhân tìm kiếm nhã thú trong Mai căn cứ từ các thuộc tính của mai như: Màu sặc, thời kỳ nở hoa, thực tính, tác dụng để thể hiện tư tưởng tình cảm và khí chất tinh thần.</p>
<p>Hoa mai có hai mầu thướng thấy nhất là : trắng và hồng: mai hoa sắc bạch tuyết trung minh ( sắc trắng hoa mai sáng trong tuyết). Trên thân thể của mai trắng chúng ta thường nhìn thấy: bi và sầu. Trên thân thể của mai hồng lại thường nhìn thấy một loại tương tư khắc cốt ghi tâm.</p>
<p>Cổ nhân thưởng mai, thứ nhất chủ yếu nhìn ngắm thế cong, uốn lượn của cành mai, hai là thưởng phẩm chủ yếu là thưởng thức mùi hương sức đậm. Quần Phương phổ”nói Mai hoa ưu vu hương ( hoa mai ưu việt nhất ở hương), tức là hoa mai lấy hương dành thắng lợi. ở cành Mai già, mọi người nhìn thấy hoài niệm đối với cố nhân. Khi thưởng thức hương mai, người ta thường thể hội được sự sảng khoái say đắm trong cảm giác rung hợp với tự nhiên. Bởi vì mai có kỳ hương nên các thiếu nữ thiếu nữ thường hay ngắt hoa mai cài bên tóc mai</p>
<p>Đối với việc trồng mai, cổ nhân kiến lập nên được môi trường sở thích của mai. Tính Mai thích ôn hoà, vì vậy mà vùng Đặng Uý Tô Châu, Triệu Sơn Hàng Châu, Mai Viên Vô Tích là quê hương nổi tiếng lâu đời của Mai. Trồng mai, dưỡng mai và cắm mai đã trở thành nơi ký thác nhã thú và sự đam mê của sỹ quân tử. Không dưỡng mai, tựa hồ như không có biện pháp nào bước vào thú chơi của làng chơi sỹ quân tử.</p>
<p><strong>LÍ QUÂN BÌNH</strong> – Trịnh Văn Định dịch</p>
<p>Nguồn dịch: Hoàng Trác Việt và Đảng Thánh Nguyên chủ biên, Hồng Kông nhân đích nhàn tình dật trí (中国人的闲情逸致), Quảng Tây Sư phạm Đại học xuất bản xã, 2007, tr. 185-192.</p>
<p>Bản dịch đã đăng tại: tạp chí Văn hóa Nghệ An, số Tết, 2010.</p>
<p>Theo khoavanhoc.edu.vn</p>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://suutamcovat.com/ngam-nhin-buc-tue-han-tam-huu-tung-truc-mai.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Điểm qua một số điển tích đặt biệt tiêu biểu được vẽ trang trí</title>
		<link>http://suutamcovat.com/diem-qua-mot-so-dien-tich-dat-biet-tieu-bieu-duoc-ve-trang-tri.html</link>
		<comments>http://suutamcovat.com/diem-qua-mot-so-dien-tich-dat-biet-tieu-bieu-duoc-ve-trang-tri.html#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 19 Mar 2016 02:18:49 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Điển Tích Cổ]]></category>
		<category><![CDATA[bản đồ phố cổ]]></category>
		<category><![CDATA[bộ sưu tập đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[buôn bán đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[buôn đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[chợ cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[chơi đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[co vat gom su]]></category>
		<category><![CDATA[cổ vật tinh hoa]]></category>
		<category><![CDATA[cổ vật trung hoa]]></category>
		<category><![CDATA[giá tiền cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[giá đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[giá đồ cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[giá đồ gốm sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[gốm sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[gốm sứ cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[hội đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[mua bán cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[mua bán đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[mua bán đồ cổ xưa]]></category>
		<category><![CDATA[mua đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[nhà sưu tầm cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[phố mua bán đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[phố đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[săn đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[sưu tầm đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[sưu tập đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[thu mua đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[vật cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[web đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ bằng đồng]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ các loại]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ gốm sứ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ mua bán]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ thời lý]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ trung hoa]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ việt]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ xưa]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ sành sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ sứ cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[đồ đồng cổ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://suutamcovat.com/?p=378</guid>
		<description><![CDATA[Hiện nay, trong bộ sưu tập của các nhà sưu tầm cổ vật, những tiệm bán đồ lưu niệm ở Hội An có nhiều loại tô, đĩa sứ lớn của các thời Minh, Thanh có vẽ trang trí những điển tích liên quan đến lịch sử văn hóa Trung Hoa, trong đó có 1 loại <a href="http://suutamcovat.com/diem-qua-mot-so-dien-tich-dat-biet-tieu-bieu-duoc-ve-trang-tri.html#more-'" class="more-link">more »</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<div class="entry clearfix">
<p>Hiện nay, trong bộ sưu tập của các nhà sưu tầm cổ vật, những tiệm bán đồ lưu niệm ở Hội An có nhiều loại tô, đĩa sứ lớn của các thời Minh, Thanh có vẽ trang trí những điển tích liên quan đến lịch sử văn hóa Trung Hoa, trong đó có 1 loại tô men lam vẽ cảnh bến phong kiều và Cô Tô thành khá đẹp. Bến Phong Kiều tấp nập thuyền ngư, thành Cô Tô cờ hoa phất phới. Bên cạnh có đề 2 câu thơ trong bài “Phong Kiều dạ bạc” của Trương Kế – một đại thi gia thời Đường. Tương truyền có lần Trương Kế đến Tô Châu thưởng cảnh. Một đêm ông đậu thuyền ở bến Phong Kiều, thấy nơi đây cảnh trên bến dưới thuyền thật là thơ mộng ông bèn tức cảnh làm thơ tả cảnh sông đêm: “Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên, Giang phong ngư hỏa đối sầu miên”. Nhưng ông chỉ làm được 2 câu thì hết ý, cứ nằm trằn trọc không sao ngủ được.</p>
<p>&nbsp;</p>
<div>Đêm hôm đó khoảng ngày đầu tháng, ánh trăng mờ ảo khiến người xúc cảm. Vị sư già trong chùa Hàn San bên Cô Tô thành cũng tức cảnh làm thơ tả cảnh đêm trăng hư ảo: “<em>Sơ tam sơ tứ nguyệt mông lung</em>,<em> bán tự ngân câu bán tự cung”</em>. Nghĩa là: “<em>mồng ba mồng bốn trăng mông lung, nửa giống ngân câu nửa giống cung</em>”. Nhưng vị sư chỉ ngâm được 2 câu rồi hết ý, nên cứ đi tới đi luôi trầm ngâm suy nghĩ. Chú tiểu thấy sư phụ bần thần, sợ thầy mất ngủ bèn ân cần thăm hỏi. Vị sư già kể nổi tâm tư hết ý thơ, chú tiểu xin phép thầy làm tiếp bài thơ. Được sư phụ đồng ý, chú tiểu ngâm tiếp 2 câu: “<em>Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn,</em> <em>bán trầm thủy để bán phù Không”</em>. Nghĩa là: “<em>một miếng ngọc hồ phân đôi mảnh, nửa in đáy nước nửa trên không</em>”. Sau khi nghe chú tiểu ngâm xong, vị sư già khen hay và đem hai câu ấy ghép với hai câu đầu thành một bát thơ thất ngôn tứ tuyệt. Để cảm tạ ơn đức của đức Phật gúp thầy trò nảy sinh thi tứ, hai thầy trò cùng vào chánh điện thắp nhang và đánh chuông cung tạ, lúc đó trời đã nửa đêm <em>(dạ bán)</em>.</div>
<div>Trong khi đó Trương Kế đang thao thức trên thuyền chợt nghe tiếng chuông vọng lại từ chùa Hàn San nên ông mới có ý tứ sáng tác tiếp hai câu chót của bài thơ là: “<em>Cô Tô thành ngoại Hàn San tự</em>, <em>dạ bán chung thanh đáo khách thuyền”</em>.</p>
<div>Nguyên văn bài thơ “<em>Phong Kiều dạ bạc</em>” đầy đủ như sau:<strong>月落烏啼霜滿天<br />
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên<em>,</em><br />
江楓漁火對愁眠<br />
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.<br />
姑蘇城外寒山寺<br />
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự,<br />
夜半鐘聲到客船<br />
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền<em>.</em></strong></div>
<div><strong>Tản Đà dịch là:</strong></div>
<div><strong><em>Quạ kêu trăng lặn trời sương,</em><br />
<em>Lửa chài le lói sầu vương giấc hồ.</em><br />
<em>Thuyền ai đậu bến Cô Tô,</em><br />
<em>Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.</em></strong></div>
<div>         <img title="Một số điển tích đặt biệt tiêu biểu được vẽ trang trí trên các đồ sứ thường gặp ở Hội An" src="/images/post/2016/04/18/18//dia.jpg" alt="dia Một số điển tích đặt biệt tiêu biểu được vẽ trang trí trên các đồ sứ thường gặp ở Hội An" align="bottom" /></div>
<p>Hạc rập là một đề tài được trang trí khá nhiều trên các loại đĩa trà thời Minh. Các loại đĩa trang trí đề tài chim, cây, hoa lá với cách thể hiện có một số điểm khá lạ mắt. Hình chim hai đầu, hai cánh trông như một cặp chim đang bay. Hình cây có hai gốc mọc từ đất lên nhưng cành lá lại xoắn xít, liền nhau. Đề tài này giới chơi cổ vật thường gọi là “<em>hạc rập</em>”, nhưng người Hoa lại gọi là đề tài “<em>vĩnh kết đồng tâm</em>”, vì loại đĩa này người Hoa sử dụng nhiều trong hôn lễ. Thật ra cách trang trí như trên có một ý nghĩa thật sâu sắc, độc đáo được dựa theo  điển tích “<em>liên lý chi, tỵ dực điểu</em>” tức “<em>chim liền cánh, cây liền cành</em>” có nguồn gốc Hồng Kông. Nhìn kỹ các hình chim đang bay trong các đĩa này chúng ta thấy rằng chúng luôn có hai đầu nhưng chỉ có hai cánh và hai chân. Tư thế như vậy của các hình trang trí trông giống như một cặp chim đang bay. Thật ra, đây là một đề tài trang trí được rút ra từ điển tích “<em>chim liền cánh</em>” của Hồng Kông để nói về lòng chung thủy, về tình yêu đôi lứa gắn bó không rời. Chuyện kể rằng: Có một loài chim màu xanh, sống ở phương Nam, Hồng Kông, chỉ có một mắt và một cánh. Chim trống, mái kết thành một cặp, muốn bay con mái chắp liền cánh với con trống mới bay được. Người ta gọi loại chim này là Tỵ dực điểu (<em>chim liền cánh</em>). Dùng đề tài “<em>chim liền cánh</em>” để trang trí các bát, đĩa dùng hàng ngày dường như người xưa muốn nhắc nhở về lòng chung thủy, về tình yêu vợ chồng son sắt, gắn bó, nương tựa lẫn nhau. Đây quả là cách giáo dục sâu sắc và cũng là một ý tưởng đậm tính nhân văn mà người xưa muốn gửi gắm cho hậu thế. Đề tài cây liền cành cũng có ý nghĩa tương tự như vậy. Nó được thể hiện bằng hình ảnh hai gốc cây mọc từ dưới đất lên và có các cành lá liền nhau. Đôi khi trong một chiếc đĩa, bát người ta thể hiện cùng một lúc cả hai đề tài chim liền cánh, cây liền cành. Điển tích kể rằng Tức thị vợ Hàn Phùng bị vua Tống (<em>thời Chiến Quốc</em>) bắt vào cung ép làm vợ. Hàn Phùng vì uất hận phải tự tử. Tức thị thương chồng, muốn giữ gìn lòng chung thủy và bảo vệ trinh tiết nên đã nhảy xuống lầu cao tự vẫn. Xác hai người chôn gần nhau và trên hai ngôi mộ bổng mọc lên hai cây lạ, cành lá của chúng chụm vào nhau, xoắn xít không rời. Người ta cho rằng đó là Hàn Phùng – Tức Thị hóa sinh để được gần nhau mãi mãi. Về sau điển tích này được thể hiện trên đồ sứ như muốn ca ngợi lòng chung thủy, đề cao tình yêu lứa đôi gắn bó và cũng để thể hiện sự đồng cảm đối với một câu chuyện tình bất tử. Sau này, khi muốn thể hiện nguyện vọng muốn chung sống gần nhau của tình yêu đôi lứa người ta thường nói:</p>
<p><strong>“<em>Trên trời, nguyện làm chim liền cánh, dưới đất nguyện làm cây liền cành</em>” <em>(tại thiên nguyện tác tỵ dực điểu, tại địa nguyện tác liên lý chi)</em>.</strong></p>
<div>                <img title="Một số điển tích đặt biệt tiêu biểu được vẽ trang trí trên các đồ sứ thường gặp ở Hội An" src="/images/post/2016/04/18/18//chim-lien-canh1.jpg" alt="chim lien canh1 Một số điển tích đặt biệt tiêu biểu được vẽ trang trí trên các đồ sứ thường gặp ở Hội An" align="bottom" /></div>
<p>Trên một số loại tô sứ men lam lớn thời Minh có vẽ hình một chú mục đồng đang cưỡi trâu với dáng nghêu ngao, tay chỉ về phía trước. Sau chú mục đồng là một văn nhân tay cầm dù vẻ như đang tìm đường hỏi lối. Trước lối đi in hai câu thơ đầu trong bài “<em>Thanh Minh</em>” của nhà thơ Đỗ Mục thời Đường “<em>Thanh minh thời tiết vũ phân phân, lộ thượng hành nhân dục đoạn hồn</em>”. Theo các tác phẩm về Đường thi chép lại rằng Đỗ Mục tự là Mục Chi, hiệu Phàn Xuyên và Thái Hòa, người đất Vạn Niên, thời Đường đỗ Tiến sĩ làm quan đến chức Trung Thư Xá Nhân. Ông là người có tài thơ khá xuất sắc sánh ngang Lý Thương Ẩn và cũng không kém gì Đỗ Phủ cho nên người đương thời gọi ông là Tiểu Đỗ. Ông là người ưa thích ngao du, có lần vào tiết Thanh Minh ông đến vùng đất Sơn Tây. Tiết Thanh Minh năm ấy khí trời đổi lạnh khiến người lữ thứ lòng buồn vô hạn, ông muốn kiếm một quán rượu uống mấy chén để giải bớt sự giá rét. May thay thấy chú mục đồng đang cưỡi trâu đi qua ông bèn hỏi thăm, mục đồng chỉ thẳng hướng Hạnh Hoa thôn xa tít. Và ông đã sáng tác nên bài Thanh Minh nổi tiếng như sau:</p>
<div>清明時節雨紛紛<br />
Thanh minh thời tiết vũ phân phân,<br />
路上行人欲斷魂<br />
Lộ thượng hành nhân dục đoạn hồn.<br />
借問酒家何處有<br />
Tá vấn tửu gia hà xứ hữu,<br />
牧童遙指杏花村<br />
Mục đồng dao chỉ Hạnh Hoa thôn.</div>
<div>Tương Như dịch là:</div>
<div><strong><em>Thanh Minh lất phất mưa phùn,</em><br />
<em>Khách đi đường thấm nỗi buồn xót xa.</em><br />
<em>Hỏi thăm quán rượu đâu là?</em><br />
<em>Mục đồng chỉ lối Hạnh Hoa thôn ngoài.</em></strong></div>
<p>Trên nhiều loại đĩa, tô sứ xanh trắng thời Thanh ta thấy có vẽ hình một người đang dạo cổ cầm bên cảnh sơn thủy thơ mộng, bên bìa rừng có một tiều phu đang dừng đốn của lắng nghe tiếng đàn. Đôi khi, trên một số đĩa sứ thời Nguyễn ngoài vẽ tích này còn có bốn câu thơ chữ nôm là “<em>Hai gã bạn tri âm, chung vui một khúc cầm. Non xanh cùng nước biếc, rằng quên để ai ngâm</em>”. Hình vẽ đó chính là điển tích về đôi bạn tri âm Bá Nha và Chung Tử Kỳ, đây là một điển tích khá nổi tiếng ca ngợi tình tri âm tri kỷ. Chuyện xưa kể rằng: Bá Nha và Tử Kỳ là đôi bạn tri âm thời Xuân Thu Chiến Quốc. Bá Nha làm quan, Tử Kỳ là tiều phu. Một hôm, Bá Nha phụng chỉ vua Tấn đi sứ qua Sính Ðô nước Sở, Bá Nha nhân dịp nầy đi thăm mộ phần tổ tiên, thăm họ hàng, xong vào từ biệt vua Sở trở về nước Tấn. Khi thuyền trở về đến cửa sông Hán Dương, nhằm đêm Trung Thu, trăng sáng vằng vặc, phong cảnh hữu tình, Bá Nha cho lịnh cắm thuyền dưới chân núi Mã Yên để thưởng ngoạn. Cảm thấy hứng thú, muốn dạo chơi một vài khúc đàn, Bá Nha trịnh trọng nâng đàn, đặt hết tâm hồn đàn lên một khúc réo rắt âm thanh, quyện vào khói trầm, chưa dứt, bỗng đàn đứt dây. Bá Nha giựt mình tự nghĩ, dây đàn bỗng đứt thế nầy ắt có người nghe lén tiếng đàn, bèn sai quân hầu lên bờ tìm xem và mời người ấy xuống thuyền đàm đạo. Người tiều phu ung dung xuống thuyền, chấp tay vái Bá Nha. Sau đôi lời tâm sự, thấy Tử Kỳ là người am hiểu, Bá Nha tiếp tục gãy đàn. Lạ thay, khi đàn Bá Nha tập trung tinh thần đến chốn non cao, khảy lên một khúc. Tiều phu khen rằng: “<em>Ðẹp thay vòi vọi kìa, chí tại non cao</em>”. Bá Nha ngưng thần, ý tại lưu thủy, khảy lên một khúc nữa. Tiều phu lại khen rằng: “<em>Ðẹp thay, mông mênh kìa, chí tại lưu thủy</em>”. Bá Nha thấy tiều phu đã thấy rõ lòng mình qua tiếng đàn, lấy làm kính phục, và hai người thề kết nghĩa tri âm rồi từ biệt, hẹn ngày Trung thu sang năm sẽ hội ngộ. Thời gian lặng lẽ trôi qua, đúng dịp Trung thu Bá Nha trở lại chốn xưa, nhưng than ôi Tử Kỳ đã qua đời vì bạo bệnh. Bá Nha thương tiếc khôn cùng bèn so dây tấu lên một khúc nhạc thiên thu, tiễn người tri âm tài hoa yểu mạng. Tấu khúc nhạc xong, Bá Nha đập vỡ đàn thề không bao giờ gãy nữa vì không còn bạn tri âm. Đây thật đúng là tình bạn tri âm hiếm có cổ kim, do đó điển tích này từ lâu đã đi vào văn học và được thể hiện nhiều trong lĩnh vực hội họa, trong đó được vẽ nhiều trên các đồ gia dụng.</p>
<p>Có thể nói hoa điểu – chim và hoa là một trong những đề tài được vẽ trang trí khá nhiều trên các đồ gốm sứ. Trong đó đề tài “<em>phi, minh, túc, thực</em>” được sử dụng trang trí phổ biến trên các loại đĩa men lam với ý nghĩa biểu tượng cho sự thăng hoa sung túc. Đề tài này được thể hiện bởi hình ảnh bốn chú vịt nước <em>(có người cho là chim nhạn, chim uyên ương…)</em> bên bờ sông đầy lau cỏ. Đặt biệt, bốn chú vịt được vẽ theo bốn tư thế khác nhau, con thì đang ngụp lặn tìm thức ăn, con thì ngưỡng cổ lên kêu gọi bạn, con thì chui đầu vào cánh ngủ say, con thì bay liện trên không. Mới nhìn ta cứ nghĩ rằng đây là những hình vẽ trang trí cho vui mắt, thật ra nó có ý nghĩa vô cùng sâu sắc, bày tỏ ước mơ cao đẹp của người xưa. Ý nghĩa này được sử dụng theo lối từ đồng âm dị nghĩa của tiếng Hoa thông qua hình ảnh của loài chim.</p>
<p>Hình ảnh này được lý giải như sau: Chim đang bay, âm Hán Việt đọc là “<em>Phi </em>(飛)” có nghĩa là bay lên, biểu tượng cho sự thăng tiến, sự phát đạt. Chim đang hót <em>(kêu)</em>, âm Hán Việt đọc là “<em>minh</em>  (鳴)” đồng âm với chữ “<em>minh</em>  (明)” là sáng sủa, tươi sáng, biểu tượng cho tiền đồ quang minh sáng lạn. Chim đang ngủ, âm Hán Việt đọc là “<em>túc</em> (宿)” đồng âm với chữ “<em>túc </em> (足)” là sung túc, no đủ, biểu tượng cho cuộc sống luôn đầy đủ, giàu có. Chim đang ăn, âm Hán Việt đọc là “<em>thực</em> (食)”, biểu tượng cho sự giàu có, dư ăn dư để. Tổng thể của đề tài “<em>phi, minh, túc, thực</em> (飛, 鳴, 宿, 食)” là cầu chúc cho cuộc sống luôn được no đủ, giàu có, tương lai luôn sáng lạn, thăng hoa phát đạt.<br />
Trên đây là một số điển tích tiêu biểu được vẽ trang trí trên các đồ sứ thường gặp ở Hội An. Ngoài ra, còn rất nhiều đề tài, điển tích khác như “<em>đạp tuyết tầm mai</em>”, “<em>mã liễu</em>”, “<em>liên áp</em>”… nhưng trong khuôn khổ bài viết này không thể giới thiệu hết được. Thông qua một số điển tích trên đây phần nào cho chúng ta thấy rằng việc trang trí trên các đồ gốm sứ không chỉ nhằm tôn vẻ đẹp hình thức của chúng mà qua đó người xưa còn muốn gửi gắm tâm huyết, ưu tư, hy vọng về một cuộc sống thăng hoa phát đạt, về tình tri kỷ, tình yêu lứa đôi tốt đẹp gắn với thơ văn, phong cảnh.</p>
<p>&nbsp;</p>
</div>
<p><strong>Tác giả bài viết: </strong>Tống Quốc Hưng</p>
<p><strong>Nguồn tin: </strong>Trung tâm BTDS Hội An</p>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://suutamcovat.com/diem-qua-mot-so-dien-tich-dat-biet-tieu-bieu-duoc-ve-trang-tri.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
