<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Sưu Tầm Cổ Vật - Cổ Vật - Thế Giới Cổ Vật - Kiến Thức Cổ Vật &#187; đồ cổ</title>
	<atom:link href="http://suutamcovat.com/tag/do-co/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://suutamcovat.com</link>
	<description>suutamcovat.com</description>
	<lastBuildDate>Wed, 10 Apr 2019 10:48:01 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	
	<item>
		<title>Đại gia phá sản vì đốt cả triệu USD vào những món đồ gò sành</title>
		<link>http://suutamcovat.com/dai-gia-pha-san-vi-dot-ca-trieu-usd-vao-nhung-mon-do-go-sanh.html</link>
		<comments>http://suutamcovat.com/dai-gia-pha-san-vi-dot-ca-trieu-usd-vao-nhung-mon-do-go-sanh.html#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 19 Mar 2016 03:20:37 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Góc Tin Tức]]></category>
		<category><![CDATA[nahf sưu tập khủng]]></category>
		<category><![CDATA[Nguyễn Vĩnh Hảo]]></category>
		<category><![CDATA[thú chơi đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đại gia phá sản]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://suutamcovat.com/?p=429</guid>
		<description><![CDATA[Số tiền cả triệu USD có trong tay những năm 1990 bị Nguyễn Vĩnh Hảo, Giám đốc Bảo tàng Gò Sành &#8211; Chăm Pa Bình Định tiêu sạch vào việc mua đồ cổ. Đốt tiền vào cổ vật Nguyễn Vĩnh Hảo (Giám đốc Bảo tàng Gò Sành – Vijaya – Chăm Pa Bình Định) kể <a href="http://suutamcovat.com/dai-gia-pha-san-vi-dot-ca-trieu-usd-vao-nhung-mon-do-go-sanh.html#more-'" class="more-link">more »</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p class="the-article-summary">Số tiền cả triệu USD có trong tay những năm 1990 bị Nguyễn Vĩnh Hảo, Giám đốc Bảo tàng Gò Sành &#8211; Chăm Pa Bình Định tiêu sạch vào việc mua đồ cổ.</p>
<div class="the-article-body">
<h3><strong>Đốt tiền vào cổ vật</strong></h3>
<p>Nguyễn Vĩnh Hảo (Giám đốc Bảo tàng Gò Sành – Vijaya – Chăm Pa Bình Định) kể rằng, từ nhỏ, anh đã chìm đắm trong những gian phòng chứa ngập cổ vật Chăm. Kế nghiệp cha, anh trở thành nhà sưu tập, rồi thành một tay buôn đồ cổ khét tiếng. Không chỉ đất Bình Định, mà giới buôn bán, sưu tầm cổ vật cả nước biết tên, kính nể.</p>
<p>Những năm 1990, Nguyễn Vĩnh Hảo có trong tay cả triệu USD, một số tiền lớn đến mức không tưởng tượng nổi. Biết bao nhiêu món cổ vật qua tay anh, đã mang về cả bao tiền. Anh mua tất cả cổ vật Chăm với giá sắt vụn, nhưng bán với giá trị vàng ròng.</p>
<p>Thời kỳ đó, ở đất Bình Định, chỉ có Nguyễn Vĩnh Hảo mới biết đến giá trị của cổ vật Chăm và định giá được nó. Nghĩ lại chuyện đem những pho tượng vàng ròng của đế chế Vijaya đem bán lấy tiền tiêu, mà giờ đây Nguyễn Vĩnh Hảo cứ thở dài tiếc nuối cho một thời nông nổi.</p>
<p>Anh bảo, thời kỳ đó, anh có một Slogan: “Hãy ốm đau và nghèo khổ để biết được những hạnh phúc cận kề”. Có nghĩa là, Nguyễn Vĩnh Hảo giàu quá, sướng quá, đến nỗi không biết làm gì để sung sướng và hạnh phúc nữa, cuộc đời chẳng còn gì để mà mơ ước nữa.</p>
<table class="picture" align="center">
<tbody>
<tr>
<td class="pic"><img src="/images/post/2016/04/18/18//d1.JPG" alt="Nguyễn Vĩnh Hảo sống ẩn thân ở khu nhà hoang ven biển." /></td>
</tr>
<tr>
<td class="pCaption caption">Nguyễn Vĩnh Hảo sống ẩn thân ở khu nhà hoang ven biển.</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Đến cuối thập kỷ 90 của thế kỷ trước, đi sâu nghiên cứu về gốm Gò Sành, loại gốm tráng men ngọc, Nguyễn Vĩnh Hảo mới thực sự bị cuốn hút. Dường như lúc đó anh mới biết được mục đích, ý nghĩa của đời mình.</p>
<p>Ngồi trước dãy nhà hoang lộng gió hướng ra biển ở Phú Yên, anh bảo rằng: “Tôi tin rằng, có một thế lực vô hình thôi thúc tôi phải làm điều gì đó cho quê hương”. Tuy nhiên, cổ vật còn lại trong dân rất ít, mà đã bị phân tán đi khắp nơi, đặc biệt nhiều là ở phố Nguyễn Công Kiều, phố buôn đồ cổ nổi tiếng ở TP.HCM.</p>
<table class="picture" align="center">
<tbody>
<tr>
<td class="pic"><img src="/images/post/2016/04/18/18//d2.jpg" alt="Đại gia phá sản vì đốt cả triệu USD vào những món đồ gò sành" /></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<table class="picture" align="center">
<tbody>
<tr>
<td class="pic"><img src="/images/post/2016/04/18/18//d3.jpg" alt="Đại gia phá sản vì đốt cả triệu USD vào những món đồ gò sành" /></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<table class="picture" align="center">
<tbody>
<tr>
<td class="pic"><img src="/images/post/2016/04/18/18//d4.jpg" alt="Những cổ vật quý ở Bảo tàng Gò Sành." /></td>
</tr>
<tr>
<td class="pCaption caption">Những cổ vật quý ở Bảo tàng Gò Sành.</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Những năm đầu thập kỷ 90, ngay cả giới buôn đồ cổ cũng không biết nhiều về dòng gốm Gò Sành, nên anh thu mua được với giá khá bèo bọt. Thế nhưng, khi giới buôn đồ cổ thấy Nguyễn Vĩnh Hảo thu mua dòng gốm Gò Sành có xuất xứ từ Bình Định ráo riết, không thèm mặc cả, bao nhiêu cũng mua, thì họ đều tăng giá.</p>
<p>Thời kỳ đó, vàng rất giá trị, nhưng Nguyễn Vĩnh Hảo đã phải bỏ ra 3-5 lượng vàng, một số tiền đủ mua căn nhà phố, để mua một chiếc bình, một chiếc bát gốm men ngọc, trong khi giới buôn cổ vật chỉ mua với giá vài phân vàng, hoặc vài ngàn đồng từ giới đào bới cổ vật.</p>
<table class="picture" align="center">
<tbody>
<tr>
<td class="pic"><img src="/images/post/2016/04/18/18//d5.jpg" alt="Lãnh đạo cao cấp đến tham quan Bảo tàng Gò Sành." /></td>
</tr>
<tr>
<td class="pCaption caption">Lãnh đạo cao cấp đến tham quan Bảo tàng Gò Sành.</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Nguyễn Vĩnh Hảo bảo, kể chuyện sưu tầm cổ vật người Chăm, thì có cả ngày không hết, nhưng có những câu chuyện khiến anh nhớ mãi, mà anh tin rằng, có “vị thần Hời” bí ẩn nào đó hỗ trợ, giúp đỡ anh, mới mua được những thứ quý như bảo vật, dù có lục tung cả trái đất này, cũng không tìm thấy nữa.</p>
<p>Vào năm 1995, giới săn lùng cổ vật truyền tin về một gia đình ở Đập Đá (An Nhơn) có trong tay một chiếc bình cổ tuyệt đẹp thuộc Vương triều Vijaya, Nguyễn Vĩnh Hảo đã lập tức tìm về Đập Đá. Chủ nhà lôi chiếc bình ra, Nguyễn Vĩnh Hảo đã thực sự choáng ngợp. Đó là chiếc bình ngự dụng, kiểu thời Tống thế kỷ 11, được sản xuất tại làng Gò Sành.</p>
<p>Là người cực kỳ sành đồ Chăm cổ, anh Hảo định giá ngay chiếc bình đó trị giá 1 cây vàng vào thời điểm đó. Nguyễn Vĩnh Hảo trả luôn giá đó, tin rằng mua được ngay, thế nhưng, không ngờ ông chủ chiếc bình lắc đầu không bán. Biết Nguyễn Vĩnh Hảo thích chiếc bình này và có ý mua bằng được, nhưng lại không biết phải đòi từng nào, nên chủ nhân cứ ậm ờ, không đưa đưa giá. Sau cả chục lần đi lại, anh trả tăng lên 5 cây vàng, nhưng lão nông kia vẫn quyết không bán.</p>
<p>Sau một tháng giằng co nhau, một hôm, đến 12h đêm, nằm trằn trọc không ngủ được, Nguyễn Vĩnh Hảo đã phóng xe đến Đập Đá. Nguyễn Vĩnh Hảo bức xúc quá, quát tháo ầm ĩ giữa đêm: “Sao ông cứ làm khó dễ cho tôi thế? Sao ông không bán cho tôi? Ông bán bao nhiêu thì phải nói ra chứ, không tôi đốt nhà ông bây giờ?”.</p>
<p>Ông nông dân này thấy Nguyễn Vĩnh Hảo quát tháo thì cười nói: “Thôi, anh trả 5 cây vàng là được rồi. Cái bình này thực ra không đến mức bằng mấy ngôi nhà ở quê như thế, nhưng vì nó là vật gia bảo tổ tiên nhiều đời, nên tôi không biết phải định giá thế nào. Anh yêu cổ vật như vậy, tôi bớt cho anh nửa cây nữa, chỉ lấy 4 cây rưỡi thôi”. Thế là Nguyễn Vĩnh Hảo mua được chiếc bình quý, không có cái thứ 2 trên thế giới này.</p>
<table class="picture" align="center">
<tbody>
<tr>
<td class="pic"><img src="/images/post/2016/04/18/18//d6.jpg" alt="Lãnh đạo cấp cao ngành văn hóa tham quan bảo tàng." /></td>
</tr>
<tr>
<td class="pCaption caption">Lãnh đạo cấp cao ngành văn hóa tham quan bảo tàng.</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Rồi còn nhiều món bảo vật nữa, như tượng tròn tu sĩ, tượng tròn hộ pháp, tượng sơn thần và tượng đầu 3 mặt, được làm từ chất liệu gốm của làng Gò Sành, do những nghệ nhân Vương triều Vijaya làm ra, đều không có cái thứ hai trên thế giới.</p>
<p>Suốt bao năm trời, Nguyễn Vĩnh Hảo chỉ mua chứ không bán. Từ một tay buôn cổ vật khét tiếng, Nguyễn Vĩnh Hảo trở thành nhà sưu tầm khủng, chỉ lưu giữ những cổ vật có xuất xứ từ làng gốm Gò Sành, tức cổ vật gốm thuộc Vương quốc Vijaya.</p>
<p>Số lượng cổ vật anh gom về căn nhà của mình đã lên tới 3.000 món, trong đó 1.500 món tuyệt đẹp, đặc sắc và 300 cổ vật vô cùng quý hiếm, đều là các bảo vật có một không hai. Và, số tiền cả triệu USD mà Nguyễn Vĩnh Hảo từng có trong thời hoàng kim buôn bán cổ vật cũng đã bị anh tiêu sạch vào việc mua đồ cổ.</p>
<table class="picture" align="center">
<tbody>
<tr>
<td class="pic"><img src="/images/post/2016/04/18/18//d7.jpg" alt="Nguyễn Vĩnh Hảo hồi ở làng Gò Sành." /></td>
</tr>
<tr>
<td class="pCaption caption">Nguyễn Vĩnh Hảo hồi ở làng Gò Sành.</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Nguyễn Vĩnh Hảo kể: “Những năm đó, rất nhiều nhà sưu tầm, đại gia, cả các chuyên gia, bảo tàng Nhà nước đến gặp tôi, đòi mua món nọ, món kia, có món với giá cả tỷ bạc, nhưng tôi nhất định không bán.</p>
<p>Theo lẽ thông thường, nếu khó khăn, bán đi một vài món để giải quyết công việc, nhưng tôi không sao đủ bản lĩnh để bán đi thứ gì. Tôi nghĩ tôi bị hồn vía người Hời &#8216;ám&#8217; vào, và những món cổ vật quanh mình như máu thịt của mình, không dứt ra được&#8221;.</p>
</div>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://suutamcovat.com/dai-gia-pha-san-vi-dot-ca-trieu-usd-vao-nhung-mon-do-go-sanh.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tìm hiều những nơi cất giữ báu vật &#8216;voi vàng&#8217; của vua Hàm Nghi</title>
		<link>http://suutamcovat.com/tim-hieu-nhung-noi-cat-giu-bau-vat-voi-vang-cua-vua-ham-nghi.html</link>
		<comments>http://suutamcovat.com/tim-hieu-nhung-noi-cat-giu-bau-vat-voi-vang-cua-vua-ham-nghi.html#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 19 Mar 2016 03:17:53 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Góc Tin Tức]]></category>
		<category><![CDATA[báu vậ]]></category>
		<category><![CDATA[báu vật bị mất]]></category>
		<category><![CDATA[mạ vàng]]></category>
		<category><![CDATA[t vua hàm nghi]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://suutamcovat.com/?p=431</guid>
		<description><![CDATA[Nhìn ngôi nhà hai gian một hồi thấp nhỏ, không cửa ngõ, ba phía thưng những tấm ván thưa chúng tôi thật khó hình dung cách cất giữ hai con voi bằng vàng. Ngôi đền Đức Thánh Mẫu Trầm Lâm ở xã Phú Gia, huyện Hương Khê, Hà Tĩnh còn có tên bản địa là <a href="http://suutamcovat.com/tim-hieu-nhung-noi-cat-giu-bau-vat-voi-vang-cua-vua-ham-nghi.html#more-'" class="more-link">more »</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p class="the-article-summary">Nhìn ngôi nhà hai gian một hồi thấp nhỏ, không cửa ngõ, ba phía thưng những tấm ván thưa chúng tôi thật khó hình dung cách cất giữ hai con voi bằng vàng.</p>
<div class="the-article-body">
<p>Ngôi đền Đức Thánh Mẫu Trầm Lâm ở xã Phú Gia, huyện Hương Khê, Hà Tĩnh còn có tên bản địa là Miếu Trăm Năm. Ông Phan Hiền, 72 tuổi, tân cố đạo chủ (người có trọng trách gìn giữ báu vật của Vua Hàm Nghi trong năm) thắp nén hương cho chúng tôi rồi ngước nhìn lên pho tượng gỗ Đức Thánh Mẫu. Ông đọc bài cúng Đức Thánh Mẫu Trầm Lâm, báo tên từng người đến thăm viếng, cầu chúc cho tất cả thượng lộ bình an, gặp nhiều may mắn.</p>
<table class="picture" align="center">
<tbody>
<tr>
<td class="pic"><img src="/images/post/2016/04/18/18//den_thanh_mau.jpg" alt="Toàn cảnh ngôi đền Đức Thánh Mẫu." /></td>
</tr>
<tr>
<td class="pCaption caption">Toàn cảnh ngôi đền Đức Thánh Mẫu.</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p><strong>Giấc mơ kỳ lạ của nhà vua</strong></p>
<p>Miếu Trầm Lâm có từ thế kỷ 14 (thời Hậu Lê) &#8211; nơi được nhiều người dân và du khách thập phương biết đến sau một đêm Vua Hàm Nghi (em ruột Kiến Phúc &#8211; con nuôi thứ ba của Tự Đức) ngủ ở chiến tuyến Sơn Phòng (cách Miếu khoảng 1000 m) được báo mộng không lành: &#8220;Quân bạch quỷ (giặc Pháp) đang theo kịp chân Trẫm. Việc này do Trẫm định liệu. Nhưng nếu Trẫm còn trú ngụ nơi đây thì muôn dân lành sẽ bị bọn phiến loạn sát hại&#8221;.</p>
<p>Choàng dậy, Vua Hàm Nghi rung chuông, rung đạc triệu các cận thần lại để báo mộng từ một phụ nữ mặc áo dài trắng hiện lên trong Miếu rồi kịp thời viết sắc phong. Từ đó Miếu thiêng trở thành đền Muội Thiên Hiện (người con gái trời giáng xuống trần) trở thành ngôi đền thờ Đức Thánh Mẫu Trầm Lâm trước khi Vua Hàm Nghi lùi vào dãy núi Giăng Màn (thuộc địa phận Hương Khê, dưới chân dãy núi Trường Sơn bây giờ).</p>
<p>Đó là đêm 20/9/1885 trời không trăng, không sao (sau khi Vua Hàm Nghi bị thất thủ tại kinh thành Huế, các cận thần đưa vua xa giá ra Quảng Trị rồi chọn núi Ẩu trong vùng rừng Hương Khê xây dựng căn cứ chống Pháp) Vua giao cho đại thần Tôn Thất Thuyết chuẩn bị sắc phong và các lễ vật quý đến tạ lễ đền Đức Thánh Mẫu Trầm Lâm. Tại đây Vua Hàm Nghi hạ Chiếu Cần Vương (lần 2) được chí sĩ yêu nước Phan Đình Phùng (ở huyện Đức Thọ) và Cao Thắng (ở huyện Hương Sơn) tụ tập nghĩa quân tham gia công cuộc kháng chiến.</p>
<table class="picture" align="center">
<tbody>
<tr>
<td class="pic"><img src="/images/post/2016/04/18/18//voi.jpg" alt="Voi vàng, nghê đồng đang được tân cố đạo chủ Phan Hiền cất giữ." /></td>
</tr>
<tr>
<td class="pCaption caption">Voi vàng, nghê đồng đang được tân cố đạo chủ Phan Hiền cất giữ.</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p><strong>Báu vật được gìn giữ suốt 125 năm</strong></p>
<p>Tương truyền trên đây được bà Nguyễn Thị Hương &#8211; cán bộ chuyên trách công tác bảo tồn, bảo tàng huyện Hương Khê cùng cán bộ địa phương và nhiều người chăm sóc ngôi đền nhớ như tạc dạ. Bà cho hay báu vật của Vua Hàm Nghi tạ lễ gồm hai con voi vàng nặng 27 chỉ và 17 chỉ.</p>
<p>Cả hai đều được bàn tay nghệ nhân kim hoàn chế tác theo thế đứng thẳng mang dáng vóc mạnh khỏe của con voi chiến với nai nịt và bành bé xíu nhưng tinh xảo từng nét chạm. Sau voi vàng là hai con nghê đồng, 35 đục đạc (treo đầu màn vua nằm để báo động), hai thanh kiếm thần bằng đồng nung, lưỡi trắng có cán bằng gỗ chạm hình Rồng Phượng sơn son thiếp vàng, ngoài bao đề hai chữ &#8220;phụng tự&#8221;.</p>
<p>Tám bộ áo mũ triều thần bằng nỉ như còn mới nguyên. Phía trước bên phải thêu hình con cò (tượng hình quan văn), bên phải là hình con cọp (tượng hình quan võ) theo ý tưởng văn võ &#8211; cò cọp; 40 đạo sắc đựng cẩn thận trong ống quyển còn tươi nét chữ của các triều vua&#8230;</p>
<table class="picture" align="center">
<tbody>
<tr>
<td class="pic"><img src="/images/post/2016/04/18/18//20150408105110v.jpg" alt="Tân cố đạo Phan Hiền trước bàn thờ Đức Thánh Mẫu. " /></td>
</tr>
<tr>
<td class="pCaption caption">Tân cố đạo Phan Hiền trước bàn thờ Đức Thánh Mẫu.</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Kỳ lạ thay, trong suốt 125 năm trải qua bao biến cố thăng trầm của chiến tranh, bao trận đói, nạn đói nhưng toàn bộ báu vật này vẫn được người dân nghèo âm thầm gìn giữ mãi đến năm 2000 UBND huyện Hương Khê mới biết câu chuyện kỳ lạ này.</p>
<p><strong>Bí ẩn nơi gìn giữ báu vật của vua</strong></p>
<div class="inner-article">
<p class="title">30 năm tìm kho báu vua Hàm Nghi, chết trong cô độc</p>
<p class="summary">Ông Nguyễn Hồng Công, người đào núi tìm kho báu vua Hàm Nghi, đã chết trong cô độc. Mọi tìm kiếm đều rơi vào vô vọng.</p>
</div>
<p>Sau khi đọc bài cúng Đức Thánh Mẫu Trầm Lâm, tân cố đạo chủ Phan Hiền hướng dẫn chúng tôi xuống gian nhà khách bên cái giếng cũng rất kì lạ hiện trước ngôi đền.</p>
<p>Cố đạo chủ vuốt chòm râu bạc cước, tự hào: &#8220;Đã ba năm nay tôi xin keo (xin quẻ âm dương) giờ mới được vua ban cho quyền cất giữ báu vật trong vòng một năm từ cố đạo chủ cũ nên vợ con, cháu chắt cả nhà, cả họ đều vui&#8221;. Ông Lê Hồng Vân, phó ban quản lý Di tích Lịch sử văn hóa đền Trầm Lâm cho hay cụ Phan Hiền là người &#8220;lận đận&#8221; nhất trong hầu hết các cố đạo chủ bởi mỗi cố đạo chủ thường nhận trọng trách này trong một năm.</p>
<p>Cứ đến ngày rằm tháng giêng các bô lão trong làng họp lại để lựa chọn ba người tiêu biểu về sự hiểu biết phong tục thờ thần, tin kính bề trên và biết đọc bài cúng hay; vợ chồng đang thượng tại; con cháu hiếu thảo, gia phong để tiến hành làm lễ xin keo ngay trước bàn thờ Vua Hàm Nghi ở Sơn Phòng.</p>
<p>Thường trong ba người được sàng lọc thì &#8220;phần âm&#8221; sẽ chỉ định một người làm cố đạo chủ. Trường hợp cố đạo chủ cũ muốn muốn giữ trọng trách này thêm một năm nữa thì các bô lão vẫn cho ứng cử nhưng phải làm lễ xin keo tiếp. Nếu xin được mới có quyền lưu lại. Người nào trúng keo, được phong chức cố đạo chủ thì bắt đầu làm lễ rước báu vật.</p>
<p>Hôm rước, cố đạo chủ cũ và mới trong bộ đồ lễ thành kính, dân làng ai cũng mặc bộ đồ đẹp nhất, nổi trống, đánh chiêng hầu theo đám rước từ cố đạo chủ cũ qua quần thể ba ngôi đền Đức Thánh Mẫu Trầm Lâm đến đền thờ Vua Hàm Nghi và đền Công Đồng rồi mới về nhà tân cố đạo chủ.</p>
<p>Trải qua hơn 126 năm (2001) lễ rước ấy trở thành lễ hội rước phong sắc Vua Hàm Nghi hay còn gọi là lễ rước lộc đầu năm khi Sơn phòng Hàm Nghi, miếu Trầm Lâm, đền Công Đồng trở thành quần thể Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Ngay năm đó, lễ hội rước báu vật vua ban này đã trở thành lễ hội văn hóa truyền thống lớn nhất huyện Hương Khê, thu hút hàng ngàn du khách thập phương.</p>
<p><strong>Người cất giữ báu vật suốt 15 năm</strong></p>
<p>Nếu tân cố đạo chủ Phan Hiền là người ba năm mới xin được keo thì ông Phan Đình Dơn là cố đạo chủ &#8220;kì cựu&#8221; nhất trong đời các cố đạo chủ bởi cụ có công cất giữ báu vật này trong 14 năm 6 tháng bắt đầu từ năm 1968 đến năm 1984. Đó là năm ông Dơn qua đời nên báu vật này mới được trao cho cố đạo chủ mới. Chúng tôi tìm đến xóm Phú Linh, xã Phú Gia thấy ngôi nhà từng giữ kỉ lục cất giấu báu vật thiêng liêng này rất tuềnh toàng, trống vắng.</p>
<p>Bà Phan Thị Vân, 74 tuổi (con gái thứ ba của cụ Dơn) bảo: &#8220;Nhà tui ở xóm Vũ Quang nhưng &#8220;bán trú&#8221; tại đây để thi thoảng thắp hương cho bọ mạ (cha mẹ). Nhà rách lắm nhưng cố gắng mà giữ bởi năm nào cũng có người từ Hà Nội, TP HCM đến thăm nơi bọ tui cất giữ báu vật rất tài tình&#8221;.</p>
<p>Nhìn ngôi nhà hai gian một hồi thấp nhỏ, không cửa ngõ, ba phía thưng những tấm ván thưa chúng tôi thật khó hình dung cách cất giữ hai con voi bằng vàng, hai con nghê bằng đồng rồi kiếm thần, đạo sắc, áo mão, đục đạc&#8230; như thế nào. Bà Vân chỉ lên những xà nhà, nói: &#8220;Giữ được vàng cho kín khó lắm. Vừa sợ kẻ trộm vừa sợ người ta dè bỉu là mê tín dị đoan. Thời đó tránh được hai tiếng mê tín là khó vô kể. Tai bọ tui lại điếc nên không nghe được họ nói thì bị mắng nhưng bọ vẫn không để voi vàng bị mất&#8221;.</p>
<p>Nói rồi bà kể: &#8220;Sau khi ra xin ngoài đền Đức Thánh Mẫu Trầm Lâm về bọ mở chốt nêm trên các xà nhà và đục phía trên nóc cột nhà để giấu voi vàng, nghê đồng vào đó. Có năm chiến tranh ác liệt quá bọ tui phải đào hầm cất giấu báu vật nhưng cứ sáng mồng một tết, bọ ra hồ Trầm Lâm múc nước vào đền thắp hương rồi đem về tắm rửa cho voi, nghê, kiếm, chiêng (lau chùi đồ tế khí) rồi để lên bàn thờ cúng. Riêng cái chuông bằng đồng đen to quá không biết giấu vào đâu cho kín kẽ, mấy ông công an xóm bắt đưa ra nhà thờ để. Được mấy hôm là mất toi&#8221;.</p>
<p>Một bà cụ người hàng xóm sang nói một câu ngắn gọn: &#8220;Thời đó dân làng nghèo lắm, bọ mạ bà Vân thường ra vườn bứt (hái) quả mít non về mài cho cùn gai rồi băm ra làm nhút ăn với cơm. Khổ cỡ đó mà có người đổi thanh kiếm thần lấy hai tạ thóc vẫn không được&#8221;. Nghe người hàng xóm nhắc lại chuyện cũ, bà Vân đến bàn thờ thắp hương cho bọ. Dưới mái ngói tấm giấy khen của UBND huyện tặng hiện cách đây hơn 30 năm là tài sản duy nhất trong ngôi nhà xưa.</p>
<p><strong>Chuyện ly kỳ khi báu vật bị mất</strong></p>
<p>Trong dáng vóc nho nhã, tân cố đạo chủ Phan Hiền thừa nhận công lao kì lạ đối với cố đạo chủ cũ của mình. Ông nói, người dân Phú Gia chúng tôi xem kỷ vật vua ban là báu vật thiêng liêng của làng. Từ thời xa xưa khó mấy, mỗi năm cũng phải làm một lễ phơi đồ, lễ mộc dục để chuẩn bị bàn giao cho cố đạo mới.</p>
<p>Trước khi bàn giao, cố đạo cũ phải đếm cẩn trọng từng báu vật và dùng cân tiểu li để cân lại trọng lượng hai con voi vàng. Thế nhưng, năm 1936 con voi vàng 27 chỉ bị trộm, thay vào đó là một con voi mạ vàng giống đúc. Năm bị mất vàng, cố đạo chủ L.T. và cả nhà hoảng hồn vì xem đây là tội trọng không thể dung tha. Truy mãi mới biết kẻ trộm táo tợn này là L.Y. con trai cụ L.T.</p>
<p>Chuyện này ông Trần Lê Độ (71 tuổi) người đang đưa con cháu từ Hà Nội về thăm viếng đền Đức Thánh Mẫu Trầm Lâm, kể: &#8220;Hiện con voi 17 chỉ bị một vệt cưa trên cổ. Chúng tôi nghi là kẻ xấu nào đó cưa để xem có đúng vàng thật hay không nhưng bại lộ nên không trộm được. Giờ báu vật tuy đã giao cho cố đạo chủ cất giữ trong két sắt nhưng lãnh đạo UBND xã giữ chìa khóa két&#8221;, ông Độ nói.</p>
</div>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://suutamcovat.com/tim-hieu-nhung-noi-cat-giu-bau-vat-voi-vang-cua-vua-ham-nghi.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lăng mộ vua Quang Trung: Những phát hiện mới ở chùa Thiên Lâm</title>
		<link>http://suutamcovat.com/lang-mo-vua-quang-trung-nhung-phat-hien-moi-o-chua-thien-lam.html</link>
		<comments>http://suutamcovat.com/lang-mo-vua-quang-trung-nhung-phat-hien-moi-o-chua-thien-lam.html#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 19 Mar 2016 02:57:36 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Góc Tin Tức]]></category>
		<category><![CDATA[bí ẩn]]></category>
		<category><![CDATA[công trình kiến trúc]]></category>
		<category><![CDATA[di tích]]></category>
		<category><![CDATA[lăng Ba Vành]]></category>
		<category><![CDATA[lăng mộ]]></category>
		<category><![CDATA[vua Quang Trung]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://suutamcovat.com/?p=404</guid>
		<description><![CDATA[Cùng một nỗi khắc khoải “lăng mộ vua Quang Trung nằm ở đâu?”, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân đã vào cuộc tìm kiếm và cũng theo hướng lăng Ba Vành. “Nhưng may sao tôi sớm phát hiện được nhiều thông tin lịch sử hé lộ cho biết lăng mộ vua Quang Trung có tên <a href="http://suutamcovat.com/lang-mo-vua-quang-trung-nhung-phat-hien-moi-o-chua-thien-lam.html#more-'" class="more-link">more »</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p class="the-article-summary">Cùng một nỗi khắc khoải “lăng mộ vua Quang Trung nằm ở đâu?”, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân đã vào cuộc tìm kiếm và cũng theo hướng lăng Ba Vành.</p>
<div class="the-article-body">
<p>“Nhưng may sao tôi sớm phát hiện được nhiều thông tin lịch sử hé lộ cho biết lăng mộ vua Quang Trung có tên là lăng Đan Dương, với những yếu tố mà thực tế lăng Ba Vành không hội đủ” &#8211; ông Xuân mở đầu như thế trong công trình nghiên cứu về lăng vua Quang Trung mà ông đã miệt mài theo đuổi một cách quyết liệt suốt hơn 30 năm qua.</p>
<p><strong>Bí ẩn ở chùa Thiền Lâm</strong></p>
<p>Cuộc tìm kiếm 30 năm của nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân đã mang lại kết quả mà ông đã thông báo rộng rãi, lần mới đây nhất là cuối tháng 11/2015: vua Quang Trung có một cung điện tên là Đan Dương, được xây dựng trên nền phủ Dương Xuân của chúa Nguyễn, là nơi ông sống và làm việc lúc làm vua ở Phú Xuân.</p>
<p>Khi chết, thi hài ông được mai táng ngay tại cung điện này, được gọi là lăng Đan Dương. Lăng nằm gần chùa Thiền Lâm xưa, thuộc ấp Bình An, là khu vực bao quanh cồn Bông Sứ, các chùa Thuyền Lâm, Vạn Phước (Huế) và khu dân cư lân cận bây giờ&#8230;</p>
<table class="picture" align="center">
<tbody>
<tr>
<td class="pic"><img src="/images/post/2016/04/18/18//11347e33.jpg" alt="Lăng mộ vua Quang Trung: Những phát hiện ở chùa Thiên Lâm" /></td>
</tr>
<tr>
<td class="pCaption caption">Sơ đồ vị trí chùa Thiền Lâm trên trục Phu Văn Lâu &#8211; đàn Nam Giao &#8211; Ảnh do nhà nghiên cứu N.Đ.X. cung cấp.</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>&#8230; Một ngày cuối tháng 11/2015, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân đưa đoàn chuyên gia gồm GS Phan Huy Lê &#8211; Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử VN &#8211; cùng nhiều nhà nghiên cứu văn hóa &#8211; lịch sử trong nước đến thực địa khu vực mà ông cho là “nơi tọa lạc của cung điện Đan Dương”.</p>
<p>Điểm tập kết là ngôi chùa có tên Thuyền Lâm ở 150 đường Điện Biên Phủ (Huế), nằm ngay phía trước bên phải chùa Từ Đàm. Một ngôi chùa vắng lặng, nhưng nghe ông Xuân giới thiệu thì mới hay chùa đang chồng chất nhiều bí ẩn.</p>
<p>Ông Xuân cho biết chùa Thuyền Lâm hiện nay được dựng trên khuôn viên chùa Thiền Lâm xưa. Đó là ngôi chùa rất nổi tiếng trong sách sử, được khai sơn vào cuối thế kỷ 17 dưới thời chúa Nguyễn, lúc đầu chỉ là một thảo am thuộc phủ Dương Xuân.</p>
<p>Năm 1695, hòa thượng Thích Đại Sán từ Quảng Đông (Trung Quốc) sang hoằng đạo xứ Đàng Trong theo lời mời của chúa Nguyễn Phúc Chu và lưu trú tại đây. Chúa đã cho xây dựng lại chùa với quy mô lớn như “một tòa phương trượng”.</p>
<p>Đến thời Tây Sơn chiếm Phú Xuân, Bùi Đắc Tuyên (sau này là thái sư dưới triều vua Quang Toản) chiếm chùa Thiền Lâm làm dinh thái sư. Năm 1795, Bùi Đắc Tuyên bị quân “đảo chính” bắt giết, chùa trở thành kho than.</p>
<p>Thời Gia Long, Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu đã cho trùng tu. Đến cuối thế kỷ 19, người Pháp cho mở con đường Nam Giao Tân Lộ (tức đường Điện Biên Phủ bây giờ) đi xuyên qua khuôn viên nên chùa phải dời qua phía tây, tại vị trí chùa Thuyền Lâm bây giờ.</p>
<p>Từ đó, theo ông Xuân, chùa Thiền Lâm rơi vào hoang phế, cho đến năm 1990 mới được thượng tọa Thích Chơn Trí đến gây dựng lại (và gọi tên chùa là Thuyền Lâm).</p>
<p>Điều bí ẩn mà ông Xuân cho biết liên quan đến lăng mộ vua Quang Trung chính là vô số gạch đá mà thượng tọa Thích Chơn Trí đã phát hiện dưới mặt đất khi đào móng xây nhà và cuốc đất làm vườn.</p>
<p>Nhà sư cho biết có rất nhiều đá đủ kiểu: đá táng cỡ lớn (dùng kê dưới chân cột nhà), đá lát nền, chân bia, gạch vồ có khuôn dấu&#8230; Các hiện vật đó hiện vẫn còn bảo lưu ở sân chùa, một số đã được chùa tận dụng xây nhà.</p>
<p>Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân cho rằng khi mở đường Nam Giao, chùa Thiền Lâm đã di dời về xây dựng trên nền của một công trình kiến trúc đã bị triệt phá và vùi lấp bên dưới.</p>
<p>Tiếp tục khảo sát thực địa tại đây, ông Xuân còn phát hiện một số bia mộ của các vị tổ sư chùa Thiền Lâm bị mài đục.</p>
<table class="article" align="center">
<tbody>
<tr>
<td></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p><strong>Dấu vết của một quần thể kiến trúc lớn đã bị triệt phá</strong></p>
<p>Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân đề nghị chúng tôi rời khỏi khuôn viên chùa Thuyền Lâm để xem những dấu vết của một quần thể công trình kiến trúc mà theo ông là đã bị triệt hạ và vùi lấp dưới mặt đất.</p>
<p>Dấu vết đó nằm bao quanh cả một khu vực gồm chùa Thuyền Lâm, chùa Vạn Phước, cồn Bông Sứ và khu dân cư quanh các chùa này.</p>
<p>Năm 1988, sau khi tiếp cận những hiện vật mới phát hiện ở chùa Thuyền Lâm, ông Xuân đã mở rộng nghiên cứu cả khu vực xung quanh và tiếp tục phát hiện những hiện vật gạch, đá, móng thành, những đống gạch đá vụn, rải rác đá táng và đá lát trên dọc đường đi&#8230;</p>
<table class="picture" align="center">
<tbody>
<tr>
<td class="pic"><img src="/images/post/2016/04/18/18//ad560550.jpg" alt="Lăng mộ vua Quang Trung: Những phát hiện ở chùa Thiên Lâm" /></td>
</tr>
<tr>
<td class="pCaption caption">Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân (đeo máy ảnh) giới thiệu về những hiện vật được phát hiện dưới lòng đất chùa Thiền Lâm.</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Ông Nguyễn Hữu Oánh, nhà ở phía sau chùa Thuyền Lâm, cho ông Xuân biết khi đào vườn làm nhà đã gặp hàng trăm viên gạch vồ và đá lát.</p>
<p>Bà Nguyễn Thị Liên, em ông Oánh, nhà ở ngay bên cạnh, cho biết năm 1945 gia đình bà đào hầm tránh bom đã phát hiện một đường hầm nằm sâu dưới đất. Ông Xuân nghi vấn: có thể đây là huyệt mộ.</p>
<p>Từ những phát hiện đó, ông Xuân quyết định mở một hố khai quật ngay đầu hè nhà bà Liên vào tháng 12/1988, với sự chứng kiến của các nhà nghiên cứu quan tâm đến lăng mộ vua Quang Trung.</p>
<p>Tại độ sâu 2 m, ông Xuân phát hiện nhiều vôi vữa mà sau đó đem đối chiếu thì đồng dạng với vôi vữa ở các công trình xây dựng trong giai đoạn xuất hiện lăng mộ vua Quang Trung.</p>
<p>Ông Oánh còn cho ông Xuân biết vào khoảng năm 1938, cụ thân sinh ông đào được bốn tấm đá có kích thước rất lớn, hình chữ nhật, dài 2,72 m, rộng 0,67 m, dày 0,35 m.</p>
<p>Ông Xuân đưa chúng tôi vào chùa Vạn Phước nằm gần nhà ông Oánh, ngoài tấm đá lớn nói trên, tại đây còn có nhiều viên đá táng dùng kê cột nhà, nhiều viên đá lát, đá trang trí.</p>
<p>Trước chùa Vạn Phước là một cồn mồ gọi là cồn Bông Sứ, trải rộng trên một sườn đồi. Phía trước có một khe nước chảy ra tên là suối Tiên, chếch về bên trái có một hồ rau muống đã bị lấp một phần.</p>
<p>Ông Xuân cho biết năm 1988 khi ông đến đây nghiên cứu thì hồ này có hình bán nguyệt. Ông Xuân đã mời bác sĩ Dương Văn Sinh &#8211; một chuyên gia về dịch học và phong thủy ở Huế &#8211; đến cồn Bông Sứ.</p>
<p>Sau khi xem xét và đo đạc hiện trường, ông Sinh cho biết cuộc đất này có đủ các yếu tố “cát địa” của đế vương.</p>
<p>Ông Xuân đưa chúng tôi sang phía đối diện cồn Bông Sứ, ở đó có ngôi chùa tên là Kim Tiên. Ông Xuân cho biết đây là ngôi chùa Tiên mà công chúa Lê Ngọc Hân, tức Bắc cung hoàng hậu của vua Quang Trung, đã lưu trú sau khi vua qua đời và viết bài <em>Ai tư vãn</em> (khóc vua Quang Trung) tại đây.</p>
<p>Ông Xuân còn tìm thấy thêm một số giếng và mồ hoang ở các chùa Diệu Đức, Tuệ Lâm trong khu vực này&#8230;</p>
<p>Từ những phát hiện trên đây, ông Xuân đi đến kết luận: đó là dấu vết cung điện Đan Dương &#8211; lăng Đan Dương của vua Quang Trung &#8211; và trước đó là phủ Dương Xuân. Cung điện này nằm gần cạnh chùa Thiền Lâm, trên nền của phủ Dương Xuân, tức cung điện mùa đông của các chúa Nguyễn.</p>
<p>Khi vua chết đã được an táng ngay tại cung điện này, gọi là lăng Đan Dương. Năm 1802, vua Gia Long đã cho quật mồ, lấy thi hài lên để “tận pháp trừng trị” và triệt phá lăng Đan Dương. Giếng hoang là dấu vết sinh hoạt của quân Tây Sơn và “mã loạn” là mồ của họ sau khi bị nhà Nguyễn tiêu diệt&#8230;</p>
<p>Kết luận này đã tạo ra những cuộc tranh luận kịch liệt giữa ông Nguyễn Đắc Xuân với những nhà nghiên cứu theo giả thiết lăng Ba Vành và những người không đồng tình với cả hai giả thiết này, kéo dài cho đến tận hôm nay.</p>
</div>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://suutamcovat.com/lang-mo-vua-quang-trung-nhung-phat-hien-moi-o-chua-thien-lam.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Cháu chuốc thuốc mê ông bà ngoại để cướp lô đồ cổ trị giá 1,6 tỷ</title>
		<link>http://suutamcovat.com/chau-chuoc-thuoc-me-ong-ba-ngoai-de-cuop-lo-do-co-tri-gia-16-ty.html</link>
		<comments>http://suutamcovat.com/chau-chuoc-thuoc-me-ong-ba-ngoai-de-cuop-lo-do-co-tri-gia-16-ty.html#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 19 Mar 2016 02:56:52 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Góc Tin Tức]]></category>
		<category><![CDATA[cháu ngoại]]></category>
		<category><![CDATA[chuốc thuốc mê]]></category>
		<category><![CDATA[cướp tài sản]]></category>
		<category><![CDATA[ông bà ngoại]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://suutamcovat.com/?p=403</guid>
		<description><![CDATA[Ngày 12/1, TAND TP HCM xét xử sơ thẩm vụ án Cướp tài sản với 2 bị cáo Phan Tấn Phong (29 tuổi, ngụ TP HCM) và Lê Thị Xuân Quí 32 tuổi, quê Lâm Đồng). Tại tòa, luật sư bào chữa cho Phong nói trong kết luận điều tra thể hiện, thanh niên này <a href="http://suutamcovat.com/chau-chuoc-thuoc-me-ong-ba-ngoai-de-cuop-lo-do-co-tri-gia-16-ty.html#more-'" class="more-link">more »</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p class="the-article-summary">Ngày 12/1, TAND TP HCM xét xử sơ thẩm vụ án Cướp tài sản với 2 bị cáo Phan Tấn Phong (29 tuổi, ngụ TP HCM) và Lê Thị Xuân Quí 32 tuổi, quê Lâm Đồng).</p>
<div class="the-article-body">
<p>Tại tòa, luật sư bào chữa cho Phong nói trong kết luận điều tra thể hiện, thanh niên này là đồng sở hữu trong số đồ cổ bị cướp. Vì thế, có thể trừ phần tiền này ra để đổi khung hình phạt cho Phong qua mức nhẹ hơn.</p>
<p>Sau khi hội ý, HĐXX xét thấy, không có chứng cứ chứng minh Phong sở hữu bao nhiêu phần trong số đồ cổ tang vật. Do đó, tòa quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung tình tiết này.</p>
<table class="picture" align="center">
<tbody>
<tr>
<td class="pic"><img src="/images/post/2016/04/18/18//WP_20160112_09_57_17_Pro__highres.jpg" alt="Cháu chuốc thuốc mê ông bà ngoại, cướp lô đồ cổ 1,6 tỷ" /></td>
</tr>
<tr>
<td class="pCaption caption">Phong trước vành móng ngựa. <em>Ảnh: <strong>K.T.</strong></em></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Theo cáo trạng, Phong sống cùng ông ngoại là Nguyễn Văn Siêu (74 tuổi) cùng 2 chị gái của ông Siêu là Nguyễn Thị Kha (81 tuổi) và Nguyễn Thị Quỳnh (78 tuổi) tại căn nhà trên đường Ngô Quyền (quận 10, TP HCM).</p>
<p>Cuối năm 2013, Phong quen biết với Quí và dẫn người phụ nữ này về nhà chung sống như vợ chồng. Đầu năm 2015, do cần tiền tiêu xài và hùn vốn kinh doanh, Phong nhiều lần bàn với ông bà bán số đồ cổ bằng gỗ, sành sứ trong nhà do tổ tiên để lại.</p>
<p>Ông Siêu, bà Kha và bà Quỳnh không đồng ý nên Phong nảy sinh ý định chuốc thuốc mê mọi người rồi dọn số đồ cổ đem bán. Thanh niên này tìm người mua đồ cổ và dẫn về nhà xem hàng.</p>
<p>Ngày 8/3/2015, Phong ký hợp đồng bán số đồ cổ cho một người tên Vũ giá 1 tỷ đồng. Anh Vũ đặt cọc trước 100 triệu, số tiền này, Phong cho mẹ và trả nợ cho ông bà.</p>
<p>Hai ngày sau, anh Vũ đưa tiếp cho Phong 200 triệu và kêu người đến nhà dọn đồ cổ. Anh ta đưa cho Quí số tiền này và nói ý định chuốc thuốc mê ông bà để cướp. Lúc đầu, người phụ nữ này phản đối nhưng Phong thuyết phục bán đồ cổ kiếm tiền kinh doanh lo cho gia đình; đồng thời gây áp lực bằng cách đòi chia tay nên Quí đồng ý.</p>
<p>Phong mua 4 viên thuốc ngủ, uống thử trước một viên để kiểm tra tác dụng. Tối 11/3/2015, Phong mua 2 chai nước nha đam rồi nghiền nát một viên thuốc đổ vào đưa cho bà Kha và bà Quỳnh uống. Phong tiếp tục đổ thuốc vào ly sữa đưa cho ông Siêu.</p>
<p>Để mọi người khỏi nghi ngờ, Phong kêu Quí cùng uống một ít nước có thuốc mê. Khi cả nhà đã ngấm thuốc ngủ say, Phong gọi điện cho Vũ đến dọn đi số đồ cổ gồm: tủ gỗ, tủ thờ, nhiều bộ bàn ghế, ván ngựa cùng một số vật dụng như mâm, lư đồng, chén dĩa,&#8230; Anh Vũ thanh toán tiếp cho Phong 700 triệu đồng.</p>
<p>Sáng hôm sau, mọi người trong nhà tỉnh thuốc mê và phát hiện mất tài sản nên trình báo công an. Lúc này, Phong thừa nhận với ông bà đã gây ra vụ việc và mong được tha thứ. Ngày 13/3/2015, thanh niên cùng Quí bị công an bắt giữ. Theo giám định, số đồ cổ bị Phong cướp có tổng giá trị gần 1,6 tỷ đồng.</p>
</div>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://suutamcovat.com/chau-chuoc-thuoc-me-ong-ba-ngoai-de-cuop-lo-do-co-tri-gia-16-ty.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Những kỷ vật có gia trị tinh thần chỉ còn trong ký ức người Hà Nội</title>
		<link>http://suutamcovat.com/nhung-ky-vat-co-gia-tri-tinh-than-chi-con-trong-ky-uc-nguoi-ha-noi.html</link>
		<comments>http://suutamcovat.com/nhung-ky-vat-co-gia-tri-tinh-than-chi-con-trong-ky-uc-nguoi-ha-noi.html#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 19 Mar 2016 02:56:13 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Góc Tin Tức]]></category>
		<category><![CDATA[chợ phiên đồ xưa]]></category>
		<category><![CDATA[gợi nhớ]]></category>
		<category><![CDATA[hoàng thành thăng long]]></category>
		<category><![CDATA[ký ức hà nội]]></category>
		<category><![CDATA[máy chữ]]></category>
		<category><![CDATA[thời bao cấp]]></category>
		<category><![CDATA[đèn dầu]]></category>
		<category><![CDATA[đèn pin huyền thoại]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồng hồ dây cót]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://suutamcovat.com/?p=402</guid>
		<description><![CDATA[Đến Hoàng thành Thăng Long những ngày đầu năm mới, du khách sẽ được ngắm nhìn những dụng cụ, kỷ vật gắn liền với đời sống người Hà Nội những năm trước và trong thời kỳ đổi mới. Nổi bật tại đây là &#8220;chợ phiên đồ xưa&#8221;, nơi trưng bày những kỷ vật quen thuộc <a href="http://suutamcovat.com/nhung-ky-vat-co-gia-tri-tinh-than-chi-con-trong-ky-uc-nguoi-ha-noi.html#more-'" class="more-link">more »</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p class="the-article-summary">Đến Hoàng thành Thăng Long những ngày đầu năm mới, du khách sẽ được ngắm nhìn những dụng cụ, kỷ vật gắn liền với đời sống người Hà Nội những năm trước và trong thời kỳ đổi mới.</p>
<div class="the-article-body">
<table class="picture" align="center">
<tbody>
<tr>
<td class="pic"><img src="/images/post/2016/04/18/18//1_zing_1.jpg" alt="Những kỷ vật chỉ còn trong ký ức người Hà Nội" /></td>
</tr>
<tr>
<td class="pCaption caption">Nổi bật tại đây là &#8220;chợ phiên đồ xưa&#8221;, nơi trưng bày những kỷ vật quen thuộc của người dân thủ đô trong thời kỳ bao cấp. Thậm chí nhiều loại đồ dùng trong những năm 90 đến nay cũng đã trở thành kỷ niệm.</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<table class="picture" align="center">
<tbody>
<tr>
<td class="pic"><img src="/images/post/2016/04/18/18//2_zing_1.jpg" alt="Những kỷ vật chỉ còn trong ký ức người Hà Nội" /></td>
</tr>
<tr>
<td class="pCaption caption">Một chủ gian hàng cho biết, tham gia tại đây giúp mọi người giao lưu là chính, giao dịch mua bán cũng có nhưng không nhiều.</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<table class="picture" align="center">
<tbody>
<tr>
<td class="pic"><img src="/images/post/2016/04/18/18//3_zing_1.jpg" alt="Những kỷ vật chỉ còn trong ký ức người Hà Nội" /></td>
</tr>
<tr>
<td class="pCaption caption">Anh Phùng Chí Kiên (nhà ở phố Hàng Buồm) đưa con trai là Phùng Đức Xuân đi chợ đồ xưa. Anh chia sẻ, đưa cháu đến đây để cho cháu thấy một phần của Hà Nội, để cháu hiểu được thời cha, thời ông đã từng sống như thế nào.</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<table class="picture" align="center">
<tbody>
<tr>
<td class="pic"><img src="/images/post/2016/04/18/18//4_zing_1.jpg" alt="Những kỷ vật chỉ còn trong ký ức người Hà Nội" /></td>
</tr>
<tr>
<td class="pCaption caption">Ở phiên chợ này, người ta có thể tìm thấy những chiếc điện thoại quay số mà trước đây thường chỉ có ở các gia đình khá giả.</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<table class="picture" align="center">
<tbody>
<tr>
<td class="pic"><img src="/images/post/2016/04/18/18//20160102_112526_zing.jpg" alt="Những kỷ vật chỉ còn trong ký ức người Hà Nội" /></td>
</tr>
<tr>
<td class="pCaption caption">Dép cao su được cánh đàn ông thường xuyên sử dụng từ thời kháng chiến chống Pháp, Mỹ cho đến những năm 90 mới bắt đầu dần biến mất.</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<table class="picture" align="center">
<tbody>
<tr>
<td class="pic"><img src="/images/post/2016/04/18/18//20160102_113146_zing.jpg" alt="Những kỷ vật chỉ còn trong ký ức người Hà Nội" /></td>
</tr>
<tr>
<td class="pCaption caption">Bộ sưu tầm tiền Việt Nam qua các thời kỳ cũng được trưng bày tại đây.</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<table class="picture" align="center">
<tbody>
<tr>
<td class="pic"><img src="/images/post/2016/04/18/18//5_zing_1.jpg" alt="Những kỷ vật chỉ còn trong ký ức người Hà Nội" /></td>
</tr>
<tr>
<td class="pCaption caption">Những chiếc đồng hồ chạy bằng dây cót được sản xuất ở Liên Xô.</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<table class="picture" align="center">
<tbody>
<tr>
<td class="pic"><img src="/images/post/2016/04/18/18//6_zing_1.jpg" alt="Những kỷ vật chỉ còn trong ký ức người Hà Nội" /></td>
</tr>
<tr>
<td class="pCaption caption">Chiếc đèn pin soi sáng thời nhiều nơi còn chưa có điện lưới.</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<table class="picture" align="center">
<tbody>
<tr>
<td class="pic"><img src="/images/post/2016/04/18/18//7_zing_1.jpg" alt="Những kỷ vật chỉ còn trong ký ức người Hà Nội" /></td>
</tr>
<tr>
<td class="pCaption caption">Chiếc cạp lồng đựng cơm, đựng mỡ từng theo những người lính vào sinh ra tử.</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<table class="picture" align="center">
<tbody>
<tr>
<td class="pic"><img src="/images/post/2016/04/18/18//8_zing_1.jpg" alt="Những kỷ vật chỉ còn trong ký ức người Hà Nội" /></td>
</tr>
<tr>
<td class="pCaption caption">Đèn dầu là đồ dùng không thể thiếu trong mỗi nhà, thậm chí ngày nay nó vẫn còn được sử dụng tuy không nhiều.</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<table class="picture" align="center">
<tbody>
<tr>
<td class="pic"><img src="/images/post/2016/04/18/18//9_zing_1.jpg" alt="Những kỷ vật chỉ còn trong ký ức người Hà Nội" /></td>
</tr>
<tr>
<td class="pCaption caption">Huy chương ghi dấu nhiều chiến công lừng lẫy của quân đội Việt Nam. Ngoài ra còn có những chiếc huy chương của Liên Xô cũ.</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<table class="picture" align="center">
<tbody>
<tr>
<td class="pic"><img src="/images/post/2016/04/18/18//10_zing_1.jpg" alt="Những kỷ vật chỉ còn trong ký ức người Hà Nội" /></td>
</tr>
<tr>
<td class="pCaption caption">Chiếc máy chữ, vật dụng gắn liền với những cán bộ công chức, trí thức thời xưa.</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<table class="picture" align="center">
<tbody>
<tr>
<td class="pic"><img src="/images/post/2016/04/18/18//11_zing.jpg" alt="Những kỷ vật chỉ còn trong ký ức người Hà Nội" /></td>
</tr>
<tr>
<td class="pCaption caption">Một khách hàng lớn tuổi đang lần giở những cuốn sách nhuốm màu thời gian.</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<div class="notebox ncenter">
<p>Ký ức Hà Nội là sự kiện do Sở Du lịch Hà Nội tổ chức để chào đón năm mới 2016. Chương trình diễn ra tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long từ ngày 30/12/2015 đến ngày 4/1/2016. Tại đây, ban tổ chức tái hiện không gian Hà Nội xưa với làng nghề, phố nghề, những sinh hoạt đời thường như pha trà, cắt tóc, uống bia, trà đá hay nặn tò he&#8230; Ngoài ra các mô hình Ô Quan Chưởng, Khuê Văn Các, gánh hàng hoa cũng được dựng lại. Bên cạnh việc trưng bày, triển lãm là các trò chơi dân gian và các hoạt động văn hoá nghệ thuật.</p>
</div>
</div>
<div class="the-article-credit">
<p class="author">Việt Hùng</p>
</div>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://suutamcovat.com/nhung-ky-vat-co-gia-tri-tinh-than-chi-con-trong-ky-uc-nguoi-ha-noi.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Dậy sóng vì tin đồn tim thấy ‘kho báu vua Gia Long’</title>
		<link>http://suutamcovat.com/day-song-vi-tin-don-tim-thay-kho-bau-vua-gia-long.html</link>
		<comments>http://suutamcovat.com/day-song-vi-tin-don-tim-thay-kho-bau-vua-gia-long.html#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 19 Mar 2016 02:54:23 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Góc Tin Tức]]></category>
		<category><![CDATA[khó báu]]></category>
		<category><![CDATA[lời đồn đoán]]></category>
		<category><![CDATA[tin đồn]]></category>
		<category><![CDATA[địa đạo]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://suutamcovat.com/?p=400</guid>
		<description><![CDATA[Lời đồn đại về kho báu ở An Giang đã lan truyền khắp nơi, nhiều người ở tận Sài Gòn cũng xuống hóng tin, dò tìm. Thời gian qua, tại An Giang râm ran tin đồn “Một kho báu có niên đại hàng trăm năm của vua Gia Long (1762-1820), trong đó gồm nhiều vàng <a href="http://suutamcovat.com/day-song-vi-tin-don-tim-thay-kho-bau-vua-gia-long.html#more-'" class="more-link">more »</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p class="the-article-summary">Lời đồn đại về kho báu ở An Giang đã lan truyền khắp nơi, nhiều người ở tận Sài Gòn cũng xuống hóng tin, dò tìm.</p>
<div class="the-article-body">
<p>Thời gian qua, tại An Giang râm ran tin đồn “Một kho báu có niên đại hàng trăm năm của vua Gia Long (1762-1820), trong đó gồm nhiều vàng và đồ cổ đang nằm dưới nền nhà của một gia đình ở thị trấn Ba Chúc, huyện Tri Tôn”. Vì tin đồn này mà gia đình ông Trương Văn Cồ (ấp Núi Nước, thị trấn Ba Chúc) lao đao, khốn khổ khi những người mê tìm kho báu liên tục “ghé thăm”.</p>
<p><strong>Một đồn mười, mười đồn trăm</strong></p>
<p>Giữa tháng 9/2015, anh Nam (43 tuổi, ngụ TP HCM) và anh Tâm (30 tuổi, huyện Ngọc Hiển, Cà Mau) thông tin với <em>Pháp Luật TP HCM</em>: Có một kho vàng do vua Gia Long để lại đang nằm dưới nền nhà của gia đình ông Trương Văn Cồ và bà Ngô Thị Điểu (thường gọi là bà Tư, là bà con của anh Nam và anh Tâm) ở ấp Núi Nước. “Thông tin về kho vàng đã được báo cáo với chính quyền địa phương nhưng họ không quan tâm” &#8211; hai anh khẳng định.</p>
<p>Để tăng thêm sức nặng cho lời nói của mình, anh Nam còn đưa ra một mảnh vỡ của phiến đá lớn được cho là cửa hầm kho báu. Phiến đá rộng chừng 10 cm2, khá mềm, có nhiều vệt đục đẽo thô sơ. “Phiến đá rất lạ, nó vỡ ra từ phiến đá lớn nơi chôn giấu kho báu” &#8211; anh Nam nói.</p>
<p>Riêng anh Tâm thì cho rằng nhiều năm trước bà Tư đã phát hiện kho vàng nhưng không dám lấy. “Sau đó bà Tư gặp nhiều giấc mơ kỳ lạ về vua Gia Long nên càng giấu kín chuyện. Mãi về sau bà mới kể cho con của mình rồi báo chính quyền” &#8211; anh Nam nói với phóng viên.</p>
<p>Để xác tín thông tin trên, ngày 12/9 chúng tôi có mặt tại ấp Núi Nước, thị trấn Ba Chúc. Nhiều hàng xóm của gia đình ông Cồ cho hay đã biết tới chuyện này, một số người còn khẳng định chắc chắn kho vàng đang nằm dưới nền nhà của ông Cồ. Những câu chuyện kỳ bí liên quan tới kho báu được họ kể cho chúng tôi nghe.</p>
<table class="picture" align="center">
<tbody>
<tr>
<td class="pic"><img src="/images/post/2016/04/18/18//14hinh2_mokr.jpg" alt="Vị trí được người dân cho rằng có kho báu." /></td>
</tr>
<tr>
<td class="pCaption caption">Vị trí được người dân cho rằng có kho báu.</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Theo đó, khoảng 10 năm trước, trong lúc đào đất đắp nền nhà, gia đình ông Cồ phát hiện một phiến đá lớn, đục đẽo thô sơ, bề dày chừng 20 cm, dài 2 m, rộng 1 m; trên bề mặt khắc nhiều chi tiết được cho là ký tự cổ. Phía dưới phiến đá có kho báu nhưng không ai dám xâm phạm do lo sợ sẽ bị thần linh trừng phạt.</p>
<p>Đến năm 2012, gia đình ông Cồ dỡ ngôi nhà lợp lá dừa nước đã cũ để dựng nhà xi măng, trong lúc đào móng lại phát hiện một phiến đá y hệt. Nhiều người biết chuyện liền tìm tới nghe ngóng, một đồn mười, mười đồn trăm. Thế là từ đó gần nhà ông Cồ xuất hiện nhiều người rà tìm kho báu, nhiều người tò mò từ nơi khác cũng kéo tới hóng tin gây phiền toái cho cả khổ chủ lẫn chính quyền địa phương.</p>
<p><strong>Khốn khổ vì tin đồn</strong></p>
<p>Ông Trương Văn Cồ (87 tuổi) hiện sống cùng vợ và con trai út trong ngôi nhà nhỏ mới xây dựng, tường ve xanh yên bình trong tàng cây râm mát. Chòm xóm quanh nhà đa phần là anh em, họ hàng của ông. Hai ông bà tuổi cao, khỏe mạnh; theo đạo Hiếu Nghĩa nên râu tóc như sương; dái tai dài, khuôn mặt quắc thước, lồ lộ phúc tướng.</p>
<p>“Thiệt tình, đúng là trong nhà chưa tỏ ngoài ngõ đã tường. Tôi mà biết có kho báu thì đã đào lên từ lâu rồi, đâu đến lượt họ. Còn hai phiến đá lớn phát hiện khi đào đất làm nhà thì vẫn còn đó, một phiến tôi đắp xi măng làm chỗ hóng mát, hút thuốc; phiến còn lại cho người cháu làm bậc thềm. Hai phiến đá này có khi người xưa làm bậc thềm cũng nên” &#8211; ông Cồ nói với chúng tôi.</p>
<table class="picture" align="center">
<tbody>
<tr>
<td class="pic"><img src="/images/post/2016/04/18/18//14hinh3_mydr.jpg" alt="Vợ chồng ông Cồ cảm thấy khổ sở vì lời đồn đoán vô căn cứ. " /></td>
</tr>
<tr>
<td class="pCaption caption">Vợ chồng ông Cồ cảm thấy khổ sở vì lời đồn đoán vô căn cứ.</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Còn theo anh Trương Văn Mỹ, con trai của ông Cồ và anh Trương Văn Mềm (em họ anh Mỹ) lời đồn đại về kho báu đã lan truyền khắp nơi, nhiều người ở tận Sài Gòn cũng tìm xuống hóng tin, dò tìm.</p>
<p>“Khoảng ba tháng trước, có một đoàn do ông Tám Bảnh ở Sài Gòn dẫn đầu đã mang thiết bị xuống xin dò tìm. Họ dò hoài có thấy gì đâu. Khi dò đến gian chính căn nhà, nơi đặt bàn thờ thì máy bị hỏng, không dò được nữa. Họ đành ra về nhưng nói sẽ quay lại” &#8211; anh Mỹ kể.</p>
<p>Anh Mềm nói thêm, đoàn nào xuống đây nếu muốn dò tìm đều phải được sự cho phép của chính quyền địa phương. Anh Mềm khẳng định: “Gia đình tôi đã báo cáo sự việc với UBND thị trấn Ba Chúc. Do thông tin nhạy cảm, bất cứ ai xuống dù chỉ là hỏi han về kho báu hay xin dò tìm tôi đều nói cứ xin ý kiến địa phương trước. Nhiều đoàn nói có giấy tờ của sở này, bộ kia nhưng UBND thị trấn không chấp thuận thì vẫn chưa được đồng ý dò tìm”.</p>
<p>Theo anh Mềm, suốt mấy năm qua gia đình khá phiền phức và khó chịu về tin đồn có kho báu. Anh cho biết: “Có nhiều nhóm người lén lút mang thiết bị đến rà kiếm. Họ sợ bị gia đình phát hiện nên đi đường vòng phía sau vào nhà hoặc đi vào ban trưa, lúc nhà vắng vẻ. Nhưng chúng tôi đều cương quyết yêu cầu họ trình báo với UBND thị trấn Ba Chúc”.</p>
<p><strong>Chính quyền vào cuộc</strong></p>
<p>Từ khi xuất hiện tin đồn, công tác an ninh càng được chính quyền địa phương chú trọng. Khi chúng tôi đánh tiếng là khách đường xa hỏi thăm gia đình ông Cồ, vừa nói chuyện ít phút đã thấy dân quân xã và đại diện chính quyền đến hỏi thăm, xác minh.</p>
<table class="picture" align="center">
<tbody>
<tr>
<td class="pic"><img src="/images/post/2016/04/18/18//14hinh1_ydry.jpg" alt="Phiến đá lớn được người đời đồn đoán là cửa kho báu hiện đang được ông Cồ dựng làm ghế hóng mát." /></td>
</tr>
<tr>
<td class="pCaption caption">Phiến đá lớn được người đời đồn đoán là cửa kho báu hiện đang được ông Cồ dựng làm ghế hóng mát.</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Trao đổi với <em>Pháp Luật TP HCM,</em> ông Nguyễn Hữu Chi, Phó chủ tịch UBND thị trấn Ba Chúc, cho biết, chính quyền địa phương đã nghe gia đình phản ánh về vụ việc này. Khoảng hai tháng nay có nhiều người mang máy móc tới nhà ông Cồ rà vàng, tìm kho báu cổ. Hành động này khiến gia đình hết sức bất bình.</p>
<p>“Địa phương cũng đã làm việc với gia đình ông Cồ, bước đầu nhận định chưa đủ căn cứ khẳng định có mỏ vàng hay kho báu dưới nền nhà. Chúng tôi vẫn theo dõi sát vụ việc này nhằm ổn định trật tự cho địa phương, tránh việc các nhóm rà vàng gây phiền hà cho gia đình” &#8211; ông Chi cho hay.</p>
<p>Cũng theo ông Chi, gia đình ông Cồ có thông báo có người tới rà kho báu gây phiền phức. Nhưng khi chính quyền địa phương đến nơi thì họ đã bỏ đi nên chưa xác định được các nhóm này là ai. Địa phương chỉ nghe người dân nói họ là các nhóm ở TP HCM, Bình Phước…</p>
<p>“Đến giờ phút này, chúng tôi khẳng định thông tin có kho báu của vua Gia Long tại Ba Chúc chỉ là lời đồn đoán, truyền miệng trong dân chúng, tương tự như vụ việc từng xảy ra ở Cô Tô. Gia đình ông Cồ cũng không yêu cầu chính quyền khai quật để làm sáng tỏ” &#8211; ông Chi thông tin thêm.</p>
<div class="notebox ncenter">
<p>Mảnh đất Ba Chúc, Tri Tôn, tỉnh An Giang xa xưa thuộc xứ Hà Tiên, vốn là nơi hoang địa, đầy chướng khí, hùm beo, rắn, sấu. Sau khi vua Gia Long lên ngôi, cư dân bắt đầu đến đây khai canh lập ấp, sinh sống phồn thịnh.</p>
<p>Em trai ông Cồ, ông Trương Văn Ô (85 tuổi) nói: “Ở đây có kho báu hay không thì không ai rõ. Nhưng cứ đào xuống đất là có gạch, những viên gạch đỏ tồn tại hàng trăm năm dưới đất sâu vẫn còn nguyên góc vuông, góc nhọn”.</p>
<p>Năm 2013, dư luận từng xôn xao về tin đồn có kho báu cả ngàn tấn vàng của vương quốc cổ Phù Nam nằm vùi dưới thành cổ ở vùng Bảy Núi (xã Cô Tô, Tri Tôn, An Giang). Tuy nhiên, sau đó thông tin này được xác định là vô căn cứ.</p>
</div>
</div>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://suutamcovat.com/day-song-vi-tin-don-tim-thay-kho-bau-vua-gia-long.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Hơn ngàn năm tìm lại dấu vết rồng bay nước Việt</title>
		<link>http://suutamcovat.com/hon-ngan-nam-tim-lai-dau-vet-rong-bay-nuoc-viet.html</link>
		<comments>http://suutamcovat.com/hon-ngan-nam-tim-lai-dau-vet-rong-bay-nuoc-viet.html#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 19 Mar 2016 02:50:52 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Điển Tích Cổ]]></category>
		<category><![CDATA[bản đồ phố cổ]]></category>
		<category><![CDATA[bộ sưu tập đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[buôn bán đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[buôn đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[chợ cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[chơi đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[co vat gom su]]></category>
		<category><![CDATA[cổ vật tinh hoa]]></category>
		<category><![CDATA[cổ vật trung hoa]]></category>
		<category><![CDATA[giá tiền cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[giá đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[giá đồ cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[giá đồ gốm sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[gốm sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[gốm sứ cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[hội đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[mua bán cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[mua bán đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[mua bán đồ cổ xưa]]></category>
		<category><![CDATA[mua đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[nhà sưu tầm cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[phố mua bán đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[phố đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[săn đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[sưu tầm đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[sưu tập đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[thu mua đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[vật cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[web đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ bằng đồng]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ các loại]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ gốm sứ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ mua bán]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ thời lý]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ trung hoa]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ việt]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ xưa]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ sành sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ sứ cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[đồ đồng cổ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://suutamcovat.com/?p=373</guid>
		<description><![CDATA[  Khi thuyền ngự về đến bến sông dưới thành Đại La thì rồng vàng bay lên mừng đón. Điềm lành xuất hiện, dân chúng tung hô, lòng vua vô cùng hoan hỷ tin tưởng việc làm đã thuận lòng người, hợp ý Trời. Nên chọn hai chữ “Thăng Long” (Rồng bay) đặt tên kinh <a href="http://suutamcovat.com/hon-ngan-nam-tim-lai-dau-vet-rong-bay-nuoc-viet.html#more-'" class="more-link">more »</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p><strong> </strong></p>
<div class="entry clearfix">
<div>
<p>Khi thuyền ngự về đến bến sông dưới thành Đại La thì rồng vàng bay lên mừng đón. Điềm lành xuất hiện, dân chúng tung hô, lòng vua vô cùng hoan hỷ tin tưởng việc làm đã thuận lòng người, hợp ý Trời. Nên chọn hai chữ “Thăng Long” (Rồng bay) đặt tên kinh đô mới, mở đầu vận hội hưng thịnh, thái bình của đất nước Đại Việt.</p>
<p>Rồng vốn được người Việt tôn thờ làm vật tổ để bảo hộ giống nòi, làm cho gió hòa mưa thuận, mùa màng tốt tươi. Đạo Phật xem Rồng là một trong tám bộ chúng hộ trì Tam Bảo<sup>(2)</sup>. Do đó vào thời đầu tiên xây dựng kinh đô Thăng Long, đề tài “Rồng bay” là nguồn cảm hứng để nghệ nhân sáng tác chạm khắc, trang trí chùa tháp, cung điện cùng với các biểu tượng Phật giáo khác cho phù hợp tư tưởng “dân tộc, đạo pháp” của triều Lý. Các triều đại kế tiếp hình tượng Rồng thay đổi dần theo tư tưởng Nho giáo.</p>
<p><strong>Rồng Lý (1010-1225)</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<table border="0" cellspacing="3" cellpadding="0" align="center">
<tbody>
<tr>
<td><img title="Ngàn năm tìm lại dấu rồng bay nước Việt" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth2013112628c049db-a677-4d61-bb43-07b9570d8fd8.JPG" alt=" Ngàn năm tìm lại dấu rồng bay nước Việt" /></td>
</tr>
<tr>
<td>Hình rồng bay thời Lý</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>&nbsp;</p>
<p>Đầu ngẩng cao, miệng há rộng đớp viên ngọc quý để lộ hai hàm răng nhọn. Răng nanh dài tỳ vào mũi như cái mào. Bờm và râu dài uốn lượn bay về phía đuôi. Thân dài như rắn, trên lưng có vây, dưới bụng có vảy ngang, uốn khúc thành nhiều đoạn từ lớn đến nhỏ dần, rất mềm mại, sinh động. Có bốn chân xòe ra ba móng.</p>
<p>Đồ án “Rồng bay” thiêng liêng suốt triều Lý không thay đổi. Hiện nay chỉ phát hiện được rồng Lý chạm khắc trên đá, đất nung dùng để trang trí, kiến trúc, không thấy xuất hiện trên các loại đồ gốm như chén, bát, thạp, chậu… phục vụ nhu cầu sinh hoạt.</p>
<p>Rồng Trần (1225-1413)</p>
<p>&nbsp;</p>
<table border="0" cellspacing="3" cellpadding="0" align="center">
<tbody>
<tr>
<td><img title="Ngàn năm tìm lại dấu rồng bay nước Việt" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth2013112669d67088-168e-46c4-9134-9e1d9946d0c4.JPG" alt=" Ngàn năm tìm lại dấu rồng bay nước Việt" /></td>
</tr>
<tr>
<td>Phù điêu rồng trên ngói bò triều Trần</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>&nbsp;</p>
<p>Nhà Trần thay nhà Lý, nhưng không gây nên những xáo trộn xã hội nặng nề. Đạo Phật vẫn được tôn trọng phát triển, làm hệ tư tưởng chính của thời đại. Tuy nhiên “Rồng Trần”, theo lời dạy của Phật hoàng Trần Nhân Tông: “Nhà ta vốn là người vùng sông nước, đời đời ưa chuộng tính hùng dũng, thường thích hình rồng vào đùi. Nếp nhà theo nghề võ, nên thích hình rồng vào đùi để không quên gốc”.</p>
<p>Do đó Rồng võ Trần ở giữa lưng võng xuống như yên ngựa, ít uốn khúc. Nanh, râu, bờm, chân đều ngắn hơn Rồng Lý, đầu mọc thêm sừng. Tạo dáng mập mạp, chắc khỏe chứ không uyển chuyển, sinh động như Rồng văn Lý. Biểu tượng Rồng đã phổ biến nên nghệ nhân sáng tạo ra nhiều kiểu dáng phong phú phục vụ cho nhu cầu xây dựng các công trình kiến trúc đình chùa nhân gian.</p>
<p>Rồng Lê Sơ (1428-1526)</p>
<p>&nbsp;</p>
<table border="0" cellspacing="3" cellpadding="0" align="center">
<tbody>
<tr>
<td><img title="Ngàn năm tìm lại dấu rồng bay nước Việt" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131126cb6f7616-e1a1-4292-9f03-92f8e1c1feb5.JPG" alt=" Ngàn năm tìm lại dấu rồng bay nước Việt" /></td>
</tr>
<tr>
<td>Hình rồng thời Lê sơ</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>&nbsp;</p>
<p>Đầu thời Lê sơ, vẫn giữ được truyền thống Rồng Lý – Trần. Về sau, Rồng được xem là biểu tượng độc quyền của vua chúa chịu ảnh hưởng triều Minh – Hồng Kông, cấm hẳn dân gian sử dụng.</p>
<p>Đồ án Rồng phải thay đổi cho phù hợp với tư tưởng quân chủ Nho giáo. Mặt rồng toát lên vẻ uy nghiêm, dữ tợn. Đầu có hai sừng dài như sừng hươu, mắt lồi to, mũi nở lớn như mũi sư tử, tai như tai trâu nằm sát dưới sừng. Đặc biệt có râu dài mọc ra dưới mắt, gần hai bên cánh mũi.</p>
<p>Chân rồng Lê có năm móng xòe ra. Đồ án “Rồng mây” không chỉ điêu khắc trên gỗ, đá phục vụ công trình kiến trúc cung điện, lăng tẩm, mà còn được nghệ nhân dùng men lam thể hiện trên đồ gốm sứ ngự dụng tuyệt đẹp. Đạt đến đỉnh cao về mỹ thuật, kỹ thuật của ngành gốm sứ Việt Nam.</p>
<p>Rồng Mạc (1527-1593)</p>
<p>&nbsp;</p>
<table border="0" cellspacing="3" cellpadding="0" align="center">
<tbody>
<tr>
<td><img title="Ngàn năm tìm lại dấu rồng bay nước Việt" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131126e2834822-48fe-40c3-ba9e-a1bffbef870f.JPG" alt=" Ngàn năm tìm lại dấu rồng bay nước Việt" /></td>
</tr>
<tr>
<td>Hình rồng thời Mạc</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>&nbsp;</p>
<p>Rồng Mạc trở về với truyền thống Rồng Việt thời Lý Trần, có thân mình tròn trịa, uốn khúc uyển chuyển. Thường đi chung với các đề tài Phật giáo thể hiện trên các vật phẩm phục vụ thờ cúng tại đình chùa. Tuy triều đại không được lâu dài nhưng để lại dấu ấn Rồng độc đáo trong kho tàng di sản dân tộc.</p>
<p>Rồng Lê Trịnh (1533-1789)</p>
<p>&nbsp;</p>
<table border="0" cellspacing="3" cellpadding="0" align="center">
<tbody>
<tr>
<td><img title="Ngàn năm tìm lại dấu rồng bay nước Việt" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131126420f342c-7e80-41a3-b5de-1caeafddbc8e.JPG" alt=" Ngàn năm tìm lại dấu rồng bay nước Việt" /></td>
</tr>
<tr>
<td>Rồng khánh xuân Lê Trịnh</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<table border="0" cellspacing="3" cellpadding="0" align="center">
<tbody>
<tr>
<td><img title="Ngàn năm tìm lại dấu rồng bay nước Việt" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth2013112613663793-36b9-4184-ace9-446b9a8a8609.JPG" alt=" Ngàn năm tìm lại dấu rồng bay nước Việt" /></td>
</tr>
<tr>
<td>Rồng phượng khánh thọ Lê Trịnh</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<table border="0" cellspacing="3" cellpadding="0" align="center">
<tbody>
<tr>
<td><img title="Ngàn năm tìm lại dấu rồng bay nước Việt" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131126dea5117c-2b8d-4972-a079-482bf15ff62c.JPG" alt=" Ngàn năm tìm lại dấu rồng bay nước Việt" /></td>
</tr>
<tr>
<td>Rồng nội phủ Lê Trịnh</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>&nbsp;</p>
<p>Rồng “Thăng Long” đến thời này xuất hiện trên đồ sứ ký kiểu tại Cảnh Đức trấn, Hồng Kông để phục vụ nhu cầu trang trí, sinh hoạt của vua Lê, chúa Trịnh.</p>
<p>Đồ án Rồng thời này được tỉa tót bờm, râu, vi, vảy rất tinh tế, sống động. Mặt Rồng toát lên thần thái uy nghiêm, cao quý tột đỉnh. Quanh thân có mây lành (tường vân – tản vân) lan tỏa, phần cuối là đuôi xòe khác hẳn rồng Hồng Kông cùng thời. Nghệ nhân cung đình Lê – Trịnh sáng tác kiểu mẫu tuyệt đẹp nhưng cũng nhờ ký kiểu gặp thời thịnh trị Khang Hy – Ung Chính – Càn Long nên mới chế tạo sản phẩm đồ sứ men “tam lam” tươi sáng như ngọc nổi bật trên nền sứ trắng tinh tuyệt vời như thế.</p>
<p>Một thoáng Rồng bay ngàn năm trôi qua! Cầu mong thiên niên kỷ mới, Rồng thiêng lại xuất hiện để bảo vệ giống nòi giữ vững non sông, phục hưng hào khí Đại Việt, xứng đáng huyền sử con Rồng cháu Tiên.</p>
<p><strong>TRẦN ĐÌNH SƠN</strong> (<em>Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần</em> <em>Xuân)</em></p>
<p>Xem Đại Việt Sử ký Toàn thư – Kỷ nhà Lý: “Thái Tổ Hoàng Đế”. (2) Tám bộ chúng: Trời – Rồng – Quỷ (Dạ Xoa) – Thần hương thơm (Càn Thát bà) – Thần chiến tranh (A-tu-la) – Thần chim đại bàng cánh vàng (Ca-lâu-la) – Thần múa hát (khẩn-na-la) – Thần rắn (Ma- hầu- la già).</p>
</div>
<div id="ctl00_ucPlaceHolder_Div_tacgia">Cổ vật tinh hoa ( Nguồn: Báo Giác Ngộ)</div>
</div>
<div class="postmeta-secondary"></div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://suutamcovat.com/hon-ngan-nam-tim-lai-dau-vet-rong-bay-nuoc-viet.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Ý nghĩa của hình tượng Rồng trong nền văn hóa Việt Nam ở các đời phong kiến</title>
		<link>http://suutamcovat.com/y-nghia-cua-hinh-tuong-rong-trong-nen-van-hoa-viet-nam-o-cac-doi-phong-kien.html</link>
		<comments>http://suutamcovat.com/y-nghia-cua-hinh-tuong-rong-trong-nen-van-hoa-viet-nam-o-cac-doi-phong-kien.html#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 19 Mar 2016 02:44:13 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Điển Tích Cổ]]></category>
		<category><![CDATA[bản đồ phố cổ]]></category>
		<category><![CDATA[bộ sưu tập đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[buôn bán đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[buôn đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[chợ cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[chơi đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[co vat gom su]]></category>
		<category><![CDATA[cổ vật tinh hoa]]></category>
		<category><![CDATA[cổ vật trung hoa]]></category>
		<category><![CDATA[giá tiền cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[giá đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[giá đồ cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[giá đồ gốm sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[gốm sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[gốm sứ cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[hội đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[mua bán cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[mua bán đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[mua bán đồ cổ xưa]]></category>
		<category><![CDATA[mua đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[nhà sưu tầm cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[phố mua bán đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[phố đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[săn đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[sưu tầm đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[sưu tập đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[thu mua đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[vật cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[web đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ bằng đồng]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ các loại]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ gốm sứ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ mua bán]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ thời lý]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ trung hoa]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ việt]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ xưa]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ sành sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ sứ cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[đồ đồng cổ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://suutamcovat.com/?p=374</guid>
		<description><![CDATA[Dân gian phương Đông dùng thuyết “tam đình cửu tự” (thân 3 khúc: đầu, thân, đuôi, kết hợp từ 9 nét khác nhau của 9 loài vật có thật gồm “cửu tự” là chín nét giống, gồm: sừng giống nai, đầu giống đà, mắt giống thỏ, thân giống rắn, bụng giống trai, vảy giống cá, <a href="http://suutamcovat.com/y-nghia-cua-hinh-tuong-rong-trong-nen-van-hoa-viet-nam-o-cac-doi-phong-kien.html#more-'" class="more-link">more »</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<div class="entry clearfix">
<div>
<p>Dân gian phương Đông dùng thuyết “tam đình cửu tự” (thân 3 khúc: đầu, thân, đuôi, kết hợp từ 9 nét khác nhau của 9 loài vật có thật gồm “cửu tự” là chín nét giống, gồm: sừng giống nai, đầu giống đà, mắt giống thỏ, thân giống rắn, bụng giống trai, vảy giống cá, ngón chân giống chim, chân giống hổ, tai giống bò) để nói lên đặc trưng tổng hợp ấy, và để lý giải vị trí bá chủ vạn vật của rồng.</p>
<p><strong>1. Nguồn gốc Bách Việt của rồng</strong></p>
<p>Nghiên cứu cho thấy rồng Đông Á mang nguồn gốc Bách Việt cổ (cộng đồng cư dân cổ thuộc ngữ hệ Austro-asiatic cư trú từ hạ lưu Dương Tử đến Bắc Đông Dương, trong đó có tổ tiên Lạc Việt) trên cơ sở của sự kết hợp<em>rắn, cá sấu</em> và nhiều loại vật khác. Rồng mang một số đặc trưng quan trọng liên quan đến văn hóa Bách Việt như</p>
<p>(1) nguyên mẫu chính từ rắn hoặc cá sấu, tức các loài động vật phổ biến của phương Nam (Rồng có các nguyên mẫu chính gồm <em>rắn, cá sấu, cá, lợn, trâu, ngựa, hổ, chó, tia chớp, sinh thực khí nam </em>– xem Nguyễn Ngọc Thơ: “<em>Về vấn đề nguyên mẫu của Rồng Trung Hoa</em>”, Tập san KHXH&amp;NV, 2007),</p>
<p>(2) tính cách thích nước và sinh sống ở môi trường sông nước; và</p>
<p>(3) rồng là sản phẩm tổng hợp của tư duy âm dương phương Nam.</p>
<p>Theo nhà ngôn ngữ học Nguyễn Tài Cẩn (2000), tên gọi Rồng vốn xuất hiện trong tiếng Việt và một số ngôn ngữ thuộc tiểu chi Proto Việt-Chứt; từ <em>Thìn</em> trong thập nhị địa chi là tên gọi do người Hán vay mượn từ ngôn ngữ Bách Việt cổ. Người Bách Việt, mà cụ thể là Lạc Việt, với truyền thuyết Lạc Long Quân – Âu Cơ, tự xem mình là “conRồng cháu Tiên”. Nhiều nhà nghiên cứu Trung Hoa cũng đồng nhất quan điểm này. Tác giả Văn Nhất Đa trong chuyên khảo “Đoan ngọ khảo” (1993) gắn nguồn gốc xuất hiện của rồng với tết Đoan ngọ và tục đua thuyền rồng của cư dân Ngô Việt vùng hạ lưu Dương Tử. Ngày nay, các vùng đất Nam Trung Hoa, Việt Nam, Đài Loan, Okinawa vẫn còn tục đua thuyền rồng trong các dịp đón năm mới, tết Đoan ngọ hay lễ hội truyền thống (Trịnh Tiểu Lô 1997). Tác giả Trung Hoa Nghê Nông Thủy (2010) chứng minh nguồn gốc Bách Việt của tết Đoan ngọ cùng tục đua thuyền rồng, sau được người Trung Hoa tiếp nhận và gắn thêm chức năng cứu Khuất Nguyên để giáo dục cội nguồn. Nhà dân tộc học người Nga D.V. Deopik (1993) từng viết “Rồng là con vật đặc thù chung cho tất cả các dân tộc Việt và chính từ đây nó đã đi vào văn hóa Trung Hoa”. Còn nhà Việt Nam học người Nga N. I. Niculin cũng nhận xét: “Trong văn hoá truyền thống của người Việt, hình tượng con Rồng – một con vật tưởng tượng – trở thành biểu tượng quan trọng nhất… Chính người Việt từ ngàn xưa đã biết trồng lúa nước và đánh cá… Hoàn toàn có cơ sở để cho rằng hình tượng con rồng trong văn hoá Trung Hoa có nguồn gốc từ phương Nam, từ vùng Đông Nam Á, từ Việt Nam và các quốc gia láng giềng….” (Xem Xem Trần Ngọc Thêm, Nguyễn Ngọc Thơ: “Nguồn gốc con rồng nhìn từ văn hóa học”,<em>Tập san KHXH&amp;NV</em>, 2011).</p>
<p>Từ chiếc nôi Bách Việt, rồng lan truyền ra xung quanh, tại mỗi địa phương rồng khoác lên sắc thái văn hóa của riêng địa phương mình. Chính vì vậy, rồng đã trở nên đa dạng về chủng loại và hình dáng, tạo nên một “Gia tộc họ rồng” cực kỳ đa dạng về hình thức lẫn chức năng.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>2. Gia tộc họ rồng</strong></p>
<p><strong>   </strong>Lấy giới tính làm tiêu chí phân loại thì có hai loại rồng đực đuôi có hạt châu hoặc chỉ có chiếc đuôi đơn thuần và rồng cái đuôi phân nhánh thành hoa văn hoa cỏ.</p>
<p><img title="Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131126c6945137-83a7-46ac-abfc-1221ea627895.JPG" alt=" Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" /></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Thứ hai là tiêu chí nguyên mẫu. Rồng hình thành từ sự kết hợp đa loài, dù vậy vẫn có thể nhận diện loài vật đặc trưng nhất. Tiêu biểu có rồng rắn, rồng cá sấu, rồng cá, rồng ngựa, rồng hổ, rồng chó, rồng chim, rồng thuồng luồng (giao long), rồng kỳ đà, rồng cáo…</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><img title="Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth2013112631a851e5-959d-40d8-af23-afff7d6e4983.JPG" alt=" Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" /><img title="Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131126d1dc6c7f-2507-4342-955e-8c3b48593fc5.JPG" alt=" Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" /><img title="Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth201311260aae16e5-2e9e-4b19-9998-190716de5ef4.JPG" alt=" Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" /></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Còn nếu dựa vào tứ chi của rồng để phân thì có các loại rồng 5 móng, 4 móng, 3 móng; không chân và rồng có tứ chi là hoa văn cây cỏ. Rồng 5 móng là loại rồng chuẩn, từ đầu Công nguyên trở đi đã trở thành biểu tượng của vua chúa, thường xuyên bị hoàng gia lũng đoạn, dân gian bị cấm dùng. Quan lại chỉ được phép dùng rồng 4 móng, có thời kì bị bắt buộc dùng hình mãng xà (như thời Minh ở Hồng Kông). Rồng không chân thường được hiểu là thuồng luồng, xuất hiện nhiều trong truyền thuyết dân gian. Rồng có tứ chi phát triển thành hoa văn hoa cỏ thường được dùng nhiều trong nghệ thuật trang trí kiến trúc hay hội họa truyền thống.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><img title="Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131126a769a3bf-74ce-4029-bc74-cf4882db7efd.JPG" alt=" Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" />    <img title="Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth201311266283e40a-2051-427f-af44-cc25f86bd0b5.JPG" alt=" Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" /></p>
<p><em>                                                                       Quỳ long</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>–    Trong truyền thuyết phương Đông, rồng có chín con với hình dáng và sở thích hoàn toàn khác nhau, bao gồm<em>bị hí, xi vẫn, bồ lao, bệ ngạn, thao thiết, công phúc, nhai xế, toan ngê, tiêu đồ</em>; bên cạnh là một số linh vật họ rồng khác nữa như <em>tù ngưu, phụ hý, trào phong, tỳ hưu, hải trãi</em> v.v. [Nguyễn Ngọc Thơ<em>: Rồng Trung Hoa,</em> Luận văn thạc sỹ, 2003].</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><img title="Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131126fa65fcaa-a673-4193-8c92-0b3d40da435a.JPG" alt=" Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" /><img title="Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131126de2cc405-286d-42ec-8462-40842b03390c.JPG" alt=" Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" /><img title="Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131126abf807fb-26e9-4495-a385-68b15f1ba427.JPG" alt=" Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" /></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>3. Rồng qua các thời kỳ</strong></p>
<p>Con rồng đã từng là một tô tem trong tín ngưỡng sơ khai của người Việt Nam. Dân Việt cổ có tục xăm mình, phổ biến trong số ấy là họa tiết rồng (giao long). Theo ghi chép trong <em>Hoài Nam Tử</em> và <em>Sơn Hải Kinh</em>, rồng được người Việt xưa xăm lên đùi để khi xuống nước “tránh bị giao long làm hại”. Đến đời vua Trần Anh Tông (1293-1314) mới chấm dứt tục xăm mình. Rồng là hình tượng của mưa thuận gió hòa, là linh vật đứng vào hàng bậc nhất trong tứ linh “long, lân, quy, phụng”. Hình tượng rồng thời đại Hùng Vương là một linh vật thân dài có vẩy như cá sấu được chạm trên các đồ đồng, đặc biệt là trên trống đồng.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><img title="Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth2013112605a279f7-c66f-44be-8418-6ab0b62973b0.JPG" alt=" Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" /></p>
<p>Qua thời kỳ Bắc thuộc, con rồng Việt Nam dần xuất hiện rõ nét dưới thời Lý. Thủ đô Thăng Long được đặt tên theo thế “rồng bay”. Rồng thời Lý là con vật mình dài như rắn, thường thân trơn, lưng có vây, thân uống cong nhiều vòng uyển chuyển theo hình sin mềm mại và thoải nhỏ dần về phía đuôi, tạo cảm giác dòng văn hóa dân gian mượt mà dài vô tận. Rồng có bốn chân, mỗi chân có ba móng cong nhọn. Đầu rồng ngẩng cao, há miệng rộng với hai hàm răng nhỏ đang vờn đớp viên ngọc quý. Từ mũi thoát ra mào lửa. Trên trán rồng có một hoa văn giống hình chữ “S”, tượng trưng cho sấm sét, mây mưa [Xem <em>Mỹ thuật thời Lý,</em> 1973]. Trên đại thể, rồng thời Lý là rồng văn, rồng Phật giáo.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><img title="Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131126b475df6c-271d-495f-b4da-dc8258da747f.JPG" alt=" Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" /></p>
<p>Hình tượng con rồng thời Trần có nhiều biến đổi so với thời Lý. Đây là thời kì người Việt Nam ba lần đánh bại quân thiện chiến Nguyên Mông, do vậy triều Trần được cho là triều đại trọng võ. Dấu ấn ấy có thể nhìn thấy rất rõ qua hình tượng rồng. Đầu rồng xuất hiện thêm hai chi tiết là cặp sừng và đôi tay, chiếc mào lửa ngắn hơn. Thân rồng tròn lẳn, mập mạp, nhỏ dần về phía đuôi, uốn khúc nhẹ, lưng võng hình yên ngựa. Đuôi rồng có nhiều dạng, khi thì đuôi thẳng và nhọn, khi thì xoắn ốc. Các vảy cũng đa dạng, có khi là những nửa hình nụ hoa tròn, có khi chỉ là những nét cong thanh thoát [Xem <em>Mỹ thuật thời Trần</em>, 1977].</p>
<p>Rồng thời Lê (thế kỷ XV) hoàn toàn khác biệt với rồng thời Lý-Trần. Thân rồng có xu hướng ngắn lại, tư thế đa dạng phong phú. Đầu rồng to, bờm lớn ngược ra sau, mào lửa mất hẳn, thay vào đó là một chiếc mũi to. Thân rồng lượn hai khúc lớn, chân có năm móng sắc nhọn quắp lại dữ tợn. Rồng thời Lê tượng trưng cho quyền uy phong kiến [Xem <em>Mỹ thuật thời Lê Sơ</em>, 1978].</p>
<p>Rồng thời Lê Trung hưng nhìn chung ít thay đổi so với thời Lê Sơ, điểm nổi bật là hình tượng rồng dần dà đi vào đời sống thường dân, đặc biệt là các mô típ bầy rồng con quây quần bên rồng mẹ, rồng đuổi bắt mồi, rồng vui cảnh lứa đôi v.v..</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><img title="Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131126538d73b4-e18f-452b-96b5-f6b5f1aafb9b.JPG" alt=" Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" /></p>
<p>Con rồng thời Nguyễn trở lại vẻ uy nghi vương quyền. Rồng được thể hiện ở nhiều tư thế, ẩn mình trong đám mây, hoặc rồng hàm thọ, lưỡng long triều nhật, lưỡng long chầu hoa cúc, lưỡng long chầu chữ thọ v.v.. Thân rồng không dài ngoằn, uốn lượn với độ cong lớn. Đầu rồng to, sừng giống sừng hươu có nhánh phụ cùng chĩa ngược ra sau. Mắt rồng lộ to, mũi giống mũi lân hoặc sư tử, miệng há to để lộ hàm răng răng nanh chắc khỏe. Vây trên lưng rồng có tia, thân cuộn hoa văn lửa hoặc mây, phân bố dài ngắn đều đặn. Râu rồng uốn sóng từ dưới mắt chìa ra cân xứng hai bên. Hình tượng rồng dùng cho vua chân có năm móng mạnh mẽ, còn quan và tầng lớp quý tộc chỉ được pháp dùng rồng bốn hoặc ba móng, đuôi không có bờm lông, các chi tiết hoa văn lờ mờ hơn rồng cung đình. Rồng trên mái đình chùa miếu mạo thường cũng chỉ có bốn móng([1]).</p>
<p>&nbsp;</p>
<div><img title="Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth201311263b1688a0-75af-4177-be23-e800dfd9a3e7.JPG" alt=" Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" /></div>
<div><em>Long ấn thời Nguyễn</em></div>
<div></div>
<div>    Kể từ khi triều Nguyễn kết thúc, tính phân tầng xã hội trong quy cách sử dụng mô típ rồng không còn nữa, chính vì vậy người ta có thể chạm khắc rồng với muôn hình vạn trạng, từ vân long, đoàn long, quỳ long, ứng long, li long, giao long, rồng 5 ngón, 5 ngón, 3 ngón v.v.. Hình tượng con rồng cũng không còn tính chất thiêng liêng, tối thượng như xưa, thay vào đó dân gian vẫn đưa vào trang trí cho các công trình kiến trúc, hội họa, chạm, khắc nghệ thuật với những ý nghĩa dân gian, bình dị.</div>
<div></div>
<div>  <strong>4. Rồng trong tâm thức người Việt</strong></div>
<div>       Như vậy, tổ tiên Bách Việt đã từng có tô tem rồng. Sau quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa với Trung Hoa, người Việt Nam tiếp nhận trở lại hình ảnh và ý nghĩa của mẫu rồng Á Đông đã hoàn thiện hóa từ người Trung Hoa. Từ đó trở đi, rồng ngự trị trong tâm thức người Việt như một linh vật đặc biệt, là “vạn vật chi đế”, là biểu tượng cộng gộp tất cả các ước vọng tốt đẹp nhất của cuộc sống nhân sinh.</div>
<div></div>
<div>      Trước nhất, rồng là linh vật tổng hợp từ nhiều loại vật có thật trong tự nhiên, do vậy rồng mang trong mình hết thảy các ưu thế vượt trội của các loài, trong đó sức mạnh và quyền năng thiên biến vạn hóa là hai đặc tính quan trọng. Rồng được cho là biểu trưng của sự mạnh mẽ, hùng tráng, là uy lực bất bại trước kẻ thù.</div>
<div></div>
<div>       Từ đặc tính tạo thành từ giới tự nhiên, rồng được người Việt Nam và Đông Á nói chung vay mượn để thực hành hoặc chuyển tải các thông điệp tâm lý – xã hội. Với tính năng siêu việt, rồng được tin là linh vật mang lại điềm lành, sự may mắn, thịnh vượng, sự thông thái; đồng thời còn là sứ giả để gửi gắm những ước vọng trong đời: cầu mưa, cầu phồn thực. Chính từ đó, trong dân gian xuất hiện các mô-típ rồng hút nước biển Đông để tưới vào đất liền, cá chép vượt vũ môn hóa rồng, rồng trừng trị kẻ ác để bảo vệ chúng dân; thế đất rồng trong phong thủy mang đến cuộc sống phồn vinh (long mạch, long hổ hội, Dinh Độc Lập = phủ đầu rồng); hiện tượng rồng “cù dậy” (cù lao); rồng là một trong 12 con vật đại diện trong dãy Thập nhị Địa chi; mượn tên gọi Long, Rồng để đặt tên đất (Thăng Long, Hạ Long, Cửu Long, Long Hải, Hàm Rồng v.v.), tên người, tên các loài động thực vật hay dụng cụ khác giống rồng (địa long = giun đất, cá mắt rồng;  long nhãn, rau long tu, cây long huyết, cỏ long đảm; đầu rồng = vòi nước v.v.); múa lân-sư-rồng v.v..</div>
<div></div>
<div>      Tương tự, rồng được khắc, họa trong nhiều công trình kiến trúc quan trọng từ kinh đô đến nhà dân, từ đình chùa miếu mạo đến các cơ quan công quyền (truyền thống) như một thể hiện sống động của rồng trong tâm thức người Việt. Lấy hoa văn trang trí trên đình chùa miếu mạo làm ví dụ, người Việt Nam có xu hướng quy tụ vào nhóm Tứ linh (long-lân-quy-phụng) hơn là xu hướng đa dạng hóa các mô típ trang trí của người Trung Hoa (rồng-phụng, bát vật, bát bảo, bát tiên quá hải, các nhân vật truyền thuyết-thần thoại, các linh vật họ rồng v.v.. – có thể xem ở miếu Thiên Hậu Tuệ Thành số 710 đường Nguyễn Trãi, Quận 5, Tp. Hồ Chí Minh). Các mô típ thường thấy nhất là “lưỡng long tranh châu”, “lưỡng long triều nhật”, “tứ linh hội tụ”, “dây lá hóa long” v.v.. Ở đất Nam Bộ, rồng còn gắn liền với cá chép, cả hai đều là loài vật thích nước, đều là vật biểu trưng của vùng đất phương Nam đầy sông nước, như ở Tổ đình chùa Giác Lâm (Tp. Hồ Chí Minh) chẳng hạn.</div>
<div></div>
<div>       Trong ca dao tục ngữ, phần đông rồng được dùng để chuyển tải ý nghĩa cao quý, thánh thiện, nhấn mạnh chức năng tâm lý:<em>  </em></div>
<div><em>          – Một ngày dựa mạn thuyền rồng</em><br />
<em>            Còn hơn muôn kiếp ở trong thuyền chài</em></div>
<div><em>        </em><em>– Bao giờ cá chép hoá long</em><br />
<em><em>          Đền ơn cha mẹ ẵm bồng ngày xưa.</em></em></div>
<div><em><em>        </em></em><em>– <em>Thế gian được vợ hỏng chồng</em><br />
<em>         Có đâu như rồng mà được cả đôi.</em></em></div>
<div>       <em>– Dẫu ngồi cửa sổ chạm rồng</em><br />
<em>         Trăm khôn nghìn khéo không chồng cũng hư</em></div>
<div><em> </em><em>      – Trứng rồng lại nở ra rồng</em><br />
<em>         Liu điu lại nở ra dòng liu điu</em></div>
<div>      Đôi khi còn dùng rồng để chuyển tại thông điệp tình yêu:</div>
<div>       <em>– Nhớ chàng như vợ nhớ chồng</em><br />
<em><em>         Như chim nhớ tổ, như rồng nhớ mây</em></em></div>
<div><em><em>      </em></em><em>– Tình cờ anh gặp mình đây</em><br />
<em><em>         Như cá gặp nước, như mây gặp rồng</em></em></div>
<div>      – <em>Trăm năm ghi tạc chữ đồng</em><br />
<em><em>        Dù ai thêu phụng vẽ rồng mặc ai</em></em></div>
<div><em><em>      </em></em>– <em>Có chồng thì phải theo chồng</em><br />
<em><em>        Chồng đi hang rắn, hang rồng cũng theo..</em></em></div>
<div>    Hay kinh nghiệm sống:</div>
<div>      – <em>Rồng đen lấy nước thì nắng;</em></div>
<div><em>        Rồng trắng lấy nước thì mưa</em><em>   </em></div>
<div><em>      – Rồng đen lấy nước được mùa;</em></div>
<div><em>        Rồng trắng lấy nước thì vua đi cày..</em></div>
<div>   Dùng làm câu đố:</div>
<div>        <em>Đầu rồng đuôi phụng le te,</em><br />
<em>        Mùa xuân ấp trứng, mùa hè nở con</em><br />
(<em>Cây cau</em> – xem Phan Thuận An: cuasomoi.com)</div>
<div></div>
<div>    Hoặc dùng rồng như một thứ để giễu cợt, mỉa mai, trách móc:</div>
<div>        –<em> Rồng nằm bể bắc phơi râu,</em><br />
<em>          Đến khi nước cạn hở đầu hở đuôi </em><em>   </em></div>
<div><em>        – <em>Ăn rồng cuốn, nói rồng leo, làm mèo mửa </em>v.v..</em></div>
<div>(Phùng Thành Chủng: newvietart.com)</div>
<div></div>
<div>     Với thuyết Hồng Bàng thị, người Việt Nam còn coi rồng là một biểu trưng của nguồn cội, của ý thức giống nòi và tinh thần đoàn kết toàn dân tộc. Ý thức “Con rồng cháu tiên” sớm ngấm ngầm vào da thịt từng người con đất Việt từ thuở lọt lòng mẹ.</div>
<div></div>
<div><img title="Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131126f41e50a8-1ecb-46a7-a772-82be3ab4f70f.JPG" alt=" Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" /></div>
<div></div>
<div>      Cũng ở chức năng này, rồng sớm bị các bậc đế vương phong kiến lũng đoạn, bắt đầu từ nhà Hán ở Trung Hoa([2]), sau ảnh hưởng đến Việt Nam và các quốc gia Đông Á khác. Từ đó rồng được phân loại mạnh mẽ: rồng 5 móng là rồng chuẩn mực, là biểu tượng của vua chúa, hoàng gia nên dần dà trở thành vật sở hữu của họ([3]). Dân gian từ thời Lê trở về sau bị hạn chế dùng rồng trong trang trí, nhất là rồng 5 móng. Trong tâm thức dân gian Nam Bộ, rồng là biểu hiện của văn hóa cung đình, do vậy ca dao có câu “<em>Rồng chầu ngoài Huế, ngựa tế Đồng Nai..”.</em> Tại các đình chùa miếu mạo do dân gian xây dựng, mô típ rồng thường thấy là rồng 4 móng hoặc 3 móng, tức chưa là rồng chuẩn. Như một sự phản kháng, dân chúng đã tạo ra các kiểu rồng không mọc chân mà thay vào đó là các kiểu hoa văn hoa cỏ sinh động để thể hiện ước vọng thăng hoa của nội tâm, đặc biệt là chạm khắc trên các công trình kiến trúc (quỳ long, li long, cù long v.v..).</div>
<div><img title="Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth2013112683d10d54-7787-4949-ade0-60651dede2cb.JPG" alt=" Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" /></div>
<div><em>Mô típ “Lưỡng long triều nhật” ở Lăng Tả quân Lê Văn Duyệt (Tp.HCM)</em></div>
<div></div>
<p>Ở chức năng tâm linh, rồng được hiểu là thần thánh, phần nhiều là thiện thần. Hai trong những nguyên do biến rồng thành thần gồm (1) linh vật tổng hợp từ sự vượt trội của nhiều loài; (2) rồng có thể thiên biến vạn hóa và thông thiên kết nối nhân gian và thế giới thần tiên. Chính vì vậy, người Việt sớm nhận thức rằng rồng là hiện thân của thần linh để trị ác cứu dân, là vật cưỡi của thần tiên (như mô típ tiên cưỡi rồng trong kiến trúc đình Bắc Bộ) hay chư Phật (trong kiến trúc chùa), là linh vật chầu phục Đức Thái Thượng Lão Quân trong Đạo giáo. Sự ngự trị tối cao của rồng so với các loài vật khác còn có thể thấy trong quần thể tòa thánh Cao Đài ở Nam Bộ (trần mái Cửu Trùng Đài, cột rồng v.v.). Ở chùa An Phước (Quận 8, Tp. Hồ Chí Minh), người ta đúc thuyền hình rồng trên có năm thầy trò Đường Tăng đầu quay về Thiên Trúc với ý nghĩa rồng hộ tống, đưa Phật tử và chúng sinh thánh thiện về đất Phật.</p>
<div><img title="Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth201311264d603af0-5e82-4e56-b3a9-422697d7cf69.JPG" alt=" Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" /><img title="Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131126718ebf6d-6888-4b1f-9bd9-87bdbf803488.JPG" alt=" Hình tượng Rồng trong văn hóa Việt Nam" /></div>
<div><em>Long ấn thời Nguyễn</em></div>
<div></div>
<div>    Tuy nhiên, chức năng tâm linh này của rồng thường được hiểu là gắn liền với chức năng ổn định tâm lý và giáo dục con người (tu tâm dưỡng tính, gửi gắm niềm mong mỏi một cuộc sống tốt đẹp hơn v.v.) là chính. Trong xã hội đương đại vẫn còn dấu vết của hiện tượng mê tín hóa biểu tượng rồng, chẳng hạn chuyện chọn năm Thìn để sinh con, hoặc chọn ngày giờ phù hợp sinh con để được quẻ Thuần Rồng (trong Tử vi); chuyện dùng nước “giếng rồng” để chữa bệnh; quan niệm ăn thịt rồng (thực chất là thịt rắn), trứng rồng (trứng đà điểu) để trường sinh bất lão; chuyện cúng tế “cù long” (rồng cù dậy) trong những ngôi nhà nền đất mặt sần sùi giống vảy rồng do đi lại lâu ngày tạo nên v.v..</div>
<div>     o0o</div>
<div>    Vậy đó, tổ tiên đã tạo ra biểu tượng rồng như là một biểu hiện của khát vọng vươn lên chinh phục tự nhiên và chinh phục chính mình. Cùng với thời gian, con người đã “thiên biến vạn hóa” biểu tượng rồng và sử dụng chúng theo những mục đích khác nhau, song chính những giá trị tốt đẹp của rồng trong tâm thức con người đã đảm bảo sự tồn tại và phát triển của nó.</div>
<div></div>
<div>
<hr />
</div>
<div>[1] Xem B.A.V.H 1915: <em>Nh</em><em>ững người bạn cố đô Huế</em> (tập 2), Đặng Như Tùng dịch, NXB Thuận Hóa.</div>
<div>[2] Hán Cao Tổ Lưu Bang sinh thời da vẻ sần sùi, tự xưng là giống rồng và ngụy tạo chuyện rồng cha truyền giống để lý giải quyền Thiên tử của mình. Tương truyền, mẹ là Lưu Ôn trong lần ra vườn Thượng uyển thấy bàn chân to trên đá, bá ướm thử, bỗng giông tố nổi lên, bà ngất xỉu. Trong lúc hôn mê, bà thấy một con rồng xanh từ trên trời bay xuống thụ tinh cho bà, bà có mang, sau sinh ra Lưu Bang.</div>
<div>[3]Ở Trung Hoa, thời Minh Gia Khánh rồng bị lũng đoạn nghiêm trọng, chỉ có vua mới được dùng rồng, hoàng tử, quan lại chỉ dùng mãng xà, dân chỉ dùng rắn. Hoàng hậu đương triều trong một lần nhớ chồng mân mê chiếc long bào có hình rồng lập tức bị xử tội (xem <em>Rồng Trung Hoa</em>, luận văn thạc sỹ, 2003).</div>
<div></div>
<div>
<p><strong>Nguyễn Ngọc Thơ</strong></p>
<p><em><strong>         (Đã đăng trên Đặc san Khoa học Xã hội số 42, tháng 1 năm 2012)</strong></em><strong> </strong></p>
</div>
</div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://suutamcovat.com/y-nghia-cua-hinh-tuong-rong-trong-nen-van-hoa-viet-nam-o-cac-doi-phong-kien.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Ý nghĩa của các biểu tượng trong nền hội hoạ Trung Quốc</title>
		<link>http://suutamcovat.com/y-nghia-cua-cac-bieu-tuong-trong-nen-hoi-hoa-trung-quoc.html</link>
		<comments>http://suutamcovat.com/y-nghia-cua-cac-bieu-tuong-trong-nen-hoi-hoa-trung-quoc.html#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 19 Mar 2016 02:43:30 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Điển Tích Cổ]]></category>
		<category><![CDATA[bản đồ phố cổ]]></category>
		<category><![CDATA[bộ sưu tập đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[buôn bán đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[buôn đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[chợ cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[chơi đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[co vat gom su]]></category>
		<category><![CDATA[cổ vật tinh hoa]]></category>
		<category><![CDATA[cổ vật trung hoa]]></category>
		<category><![CDATA[giá tiền cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[giá đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[giá đồ cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[giá đồ gốm sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[gốm sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[gốm sứ cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[hội đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[mua bán cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[mua bán đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[mua bán đồ cổ xưa]]></category>
		<category><![CDATA[mua đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[nhà sưu tầm cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[phố mua bán đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[phố đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[săn đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[sưu tầm đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[sưu tập đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[thu mua đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[vật cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[web đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ bằng đồng]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ các loại]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ gốm sứ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ mua bán]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ thời lý]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ trung hoa]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ việt]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ xưa]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ sành sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ sứ cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[đồ đồng cổ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://suutamcovat.com/?p=375</guid>
		<description><![CDATA[chinese painting Tranh của Đường Dần (đời Minh) Mỗi khi thưởng ngoạn một bức tranh Hồng Kông, ấn tượng ban đầu của đa số chúng ta hầu như ở phương diện hình thức, tức là đánh giá xem tranh vẽ có đẹp hay không. Nhưng nếu tự hỏi tại sao tranh có chủ đề như <a href="http://suutamcovat.com/y-nghia-cua-cac-bieu-tuong-trong-nen-hoi-hoa-trung-quoc.html#more-'" class="more-link">more »</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<div class="entry clearfix">
<div>
<div>
<div>
<div>
<div id="cc-m-imagesubtitle-5052508964"><img id="cc-m-imagesubtitle-image-5052508964" title="chinese painting" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth201312021a5eaaac-1c01-4477-8113-be4c7071fc42.JPG" alt=" Ý nghĩa các biểu tượng trong hội hoạ Trung Quốc" /></div>
</div>
<div>
<div>chinese painting</div>
</div>
</div>
<div id="cc-m-textwithimage-5052442164">
<div><img id="cc-m-textwithimage-image-5052442164" title="Tranh của Đường Dần (đời Minh)" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131202c478818c-8e03-4bc1-a326-984a8b083f9b.JPG" alt=" Ý nghĩa các biểu tượng trong hội hoạ Trung Quốc" /></div>
<p>Tranh của Đường Dần (đời Minh)</p>
</div>
<p>Mỗi khi thưởng ngoạn một bức tranh Hồng Kông, ấn tượng ban đầu của đa số chúng ta hầu như ở phương diện hình thức, tức là đánh giá xem tranh vẽ có đẹp hay không. Nhưng nếu tự hỏi tại sao tranh có chủ đề như thế, hay tác giả muốn gởi gấm điều gì qua bức tranh ấy, có lẽ không ít người lúng túng tìm câu giải đáp.</p>
<p>Ở đây chúng ta sẽ không xét tới những hoạ phẩm của những tác giả hiện đại chịu ảnh hưởng những trường phái hội hoạ Tây phương (như phái ấn tượng, phái siêu thực, v.v…) mà chính tác giả mới hiểu hoặc không ai hiểu gì cả (kể cả tác giả). Chúng ta cũng không xét tới các hoạ phẩm mang tính chất tôn giáo bởi vì mục đích của tranh đã thấy rõ. Chúng ta sẽ xét những bức tranh mang đậm nét truyền thống, thậm chí dân gian, để thấy ý nghĩa biểu tượng được gởi gấm trong đó. Thí dụ như tranh có các chủ đề như: hoa điểu, rồng, ngựa, vượn, cá, tùng hạc, sơn thuỷ, v.v…</p>
<p>Đối với loại tranh này, cái chủ đề với ý nghĩa biểu tượng thì quan trọng hơn phong cách hay kỹ thuật thể hiện (thuật ngữ chuyên môn gọi là <em>kỹ pháp</em> 技法). Tác giả có thể dùng <em>công bút</em> 工笔(tức là lối vẽ tỉ mỉ, bất cứ vật gì cũng có đường viền thậm chí cọng cỏ hay chiếc lá, rồi tô màu lên); hoặc dùng <em>ý bút</em> 意笔 (tức là lối vẽ phóng khoáng, loại bỏ hoặc rất hạn chế đường viền, thậm chí một nét bút cũng thành lá lan hay cọng cỏ). Tác giả cũng có thể dùng màu sắc rực rỡ tươi thắm, hoặc màu sắc nhàn nhạt lạnh lẽo, thậm chí vẽ toàn mực đen (thuật ngữ gọi là <em>mặc hoạ</em> 墨畫). Dù sao mặc lòng, tất cả điều ấy cũng chỉ là những hình thức thể hiện đa dạng, mà mục đích chủ yếu là nhằm chuyển tải một ý nghĩa biểu tượng nào đó.</p>
<p>Có hai điểm nổi bật của loại tranh này. Thứ nhất, trong cuộc sống người ta thường gán cho một sự vật nào đó một ý nghĩa biểu tượng. Thí dụ: trúc là quân tử, mai là giai nhân, cây tùng và chim hạc ngụ ý trường thọ (tùng hạc diên niên 松鶴延年), v.v… Hoạ sĩ chỉ việc thể hiện nó bằng kỹ pháp riêng của mình. Đặc điểm thứ hai là thông qua ngôn ngữ (nhất là từ ngữ đồng âm hay cận âm) người ta sẽ liên tưởng hình vẽ này đến một sự vật nào đó với ý nghĩa biểu tượng nhất định trong tâm thức chung của mọi người. Thí dụ bức tranh vẽ con cá. Chữ Hán <em>ngư</em> 魚 (cá) đồng âm [yú] (âm Bắc Kinh) với chữ <em>dư</em> 餘 (dư thừa, dư dật). Qua ý nghĩa biểu tượng này là niềm ao ước một cuộc sống dư dật, khá giả. Nếu vẽ 9 con cá, thì ước nguyện này càng mạnh mẽ. Chữ Hán <em>cửu</em> 九 (số 9) đồng âm [jiǔ] với chữ <em>cửu</em> 久(lâu dài, trường cửu). <em>Cửu ngư</em> 九魚 (9 con cá) phát âm [jiǔ yú] giống như <em>cửu dư</em> 久餘 (dư dật lâu dài), ngụ ý một ước mong được sống khá giả mãi. Điều này cũng giống như người Việt Nam sắp đặt dĩa trái cây chưng tết gồm mãng cầu, dừa xiêm, đu đủ, xoài với ước nguyện khiêm tốn «cầu vừa đủ xài» trong tiết xuân sang; bởi vì người Việt ở Nam Bộ phát âm «dừa» giống như «vừa», «xoài» giống như «xài». (Thật ra mong ước đó không khiêm tốn đâu, bởi vì ở đời biết thế nào mới là đủ). Tất nhiên sự so sánh này chỉ nhắm vào khía cạnh ngôn ngữ, không xét tới hình thức thể hiện.</p>
<div id="cc-m-textwithimage-5052445864">
<div><img id="cc-m-textwithimage-image-5052445864" title="" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131202bf4c25be-618b-4b95-9a75-3c0dacc5f462.JPG" alt=" Ý nghĩa các biểu tượng trong hội hoạ Trung Quốc" /></div>
</div>
<p>Sau đây chúng ta thử tìm ra một số hình ảnh biểu tượng trong hội hoạ Hồng Kông. Trước tiên, khi nói đến tranh thuỷ mặc 水墨 (thường bị đọc nhầm là <em>thuỷ mạc</em>) thì chúng ta thường liên tưởng ngay đến tranh sơn thủy. Đây là một mảng đề tài đặc sắc trong hội hoạ Hồng Kông. Hai chữ <em>sơn thuỷ</em> có ý nghĩa triết lý thâm trầm của chúng, không chỉ đơn thuần <em>sơn</em> 山 là núi non, <em>thuỷ</em> 水 là sông nước.</p>
<p>Khổng Tử từng nói rằng: «Kẻ trí vui chơi nơi sông nước, kẻ nhân vui chơi nơi núi non. Kẻ trí hiếu động, kẻ nhân trầm tĩnh. Kẻ trí vui vẻ, kẻ nhân trường thọ.» 知(智)者樂水, 仁者樂山, 知(智)者動, 仁者靜, 知(智)者樂, 仁者壽 (Trí giả nhạo thuỷ, nhân giả nhạo sơn, trí giả động, nhân giả tĩnh, trí giả lạc, nhân giả thọ.– <em>Luận Ngữ</em> – Ung Dã).</p>
<p>Sông nước trôi chảy, linh động biến dịch không ngừng, tìm về trùng dương mênh mông. Sự trôi chảy không ngừng này tượng trưng bản thể của Đạo. Khổng Tử có lần đứng trên bờ sông, nhìn nước chảy, giác ngộ lý lẽ ấy, nên ngài tán thán: «Ôi, trôi chảy thế này, ngày đêm nó không hề ngừng nghỉ !» 逝者如斯夫不舍晝夜 (Thệ giả như tư phù, bất xả trú dạ ! – <em>Luận Ngữ</em> – Tử Hãn).</p>
<p>Do đó, kẻ trí tuệ thấu đạt lý lẽ của sự vật, linh hoạt tiến triển mãi không ngưng trệ, cũng linh động như bản tính của nước. Kẻ nhân ái yên ổn với nghĩa lý mà dày dặn kiên cố vững bền, cũng tĩnh như bản tính của núi. Động và tĩnh nói về bản thể, mà vui vẻ trường thọ là nói về hiệu quả đạt được.</p>
<div id="cc-m-textwithimage-5052448464">
<div><img id="cc-m-textwithimage-image-5052448464" title="" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131202bee9df80-ed51-460c-8f8a-691e6067d038.JPG" alt=" Ý nghĩa các biểu tượng trong hội hoạ Trung Quốc" /></div>
</div>
<p>Chủ đề nổi bật thứ hai là hoa điểu 花鳥(hoa và chim chóc). Về hoa, các văn nhân Hồng Kông thường gán cho từng loại hoa một đức tính, một ý nghĩa tượng trưng văn học nào đó, và các họa sĩ đã tiếp thu toàn bộ những quan niệm này. Chẳng hạn Chu Đôn Di 周惇頤 đời Tống từng nói: «Trong các loài hoa, cúc là kẻ ẩn dật, mẫu đơn là kẻ phú quý và sen là bậc quân tử vậy.» 菊花之隱逸者也牡丹花之富貴者也蓮花之君子者也(Cúc, hoa chi ẩn dật giả dã; mẫu đơn, hoa chi phú quý giả dã; liên, hoa chi quân tử giả dã).</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Quan niệm cúc là kẻ ẩn dật có lẽ phát xuất từ Đào Tiềm 陶潛 tức Đào Uyên Minh 陶淵明 đời Tấn, một thi sĩ vĩ đại, chán cảnh làm quan luồn cúi, treo áo từ quan, hưởng thú điền viên, vui cảnh nghèo, thích uống rượu chơi cúc và nhàn du. Người đời khen ông là bậc ẩn dật cao khiết. Trong bài Ẩm Tửu 飲酒 của ông có nhắc đến hoa cúc: «Hái cúc dưới giậu đông, thơ thới nhìn núi Nam.» 採菊東籬下悠然見南山 (Thái cúc đông ly hạ, du nhiên kiến Nam Sơn). Người ẩn sĩ này uống rượu ngắm cúc để quên cảnh náo nhiệt, trầm luân trong đời, cho nên hoa cúc cũng là biểu tượng của bậc quân tử ẩn dật lánh đời vậy. Đào Tiềm từng thốt rằng: «Hoa cúc mùa thu có sắc đẹp, phơi lộ nét anh tú, khiến ta quên tình buồn, lánh xa tình đời.» 秋菊有佳色裛露掇其英泛此忘憂物遠我遺世情 (Thu cúc hữu giai sắc, ấp lộ xuyết kỳ anh, phiếm thử vong ưu vật, viễn ngã di thế tình).</p>
<p>Người giàu có ưa chuộng màu sắc lộng lẫy rực rỡ của mẫu đơn. Mẫu đơn là loài hoa quý hiếm, chỉ có bậc quyền quý đài các mới chơi hoa này. Cho nên mẫu đơn là biểu tượng của sự giàu sang phú quý.</p>
<p>Hoa sen là cốt cách của bậc quân tử. Đẹp và ngát hương, gần bùn mà chẳng tanh bùn. Dù cuộc đời ô trọc, nhân tình ấm lạnh, bậc quân tử vẫn giữ được tiết tháo của mình, thơm tho và tinh khiết như đóa sen kia.</p>
<div id="cc-m-textwithimage-5052453964">
<div><img id="cc-m-textwithimage-image-5052453964" title="Tranh của Từ Vị (đời Minh)" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth201312024bc2d719-8089-4f43-aca1-d423032d9f53.JPG" alt=" Ý nghĩa các biểu tượng trong hội hoạ Trung Quốc" /></div>
<p>Tranh của Từ Vị (đời Minh)</p>
</div>
<p>Cổ nhân gọi tùng, trúc, mai là ba người bạn mùa lạnh (<em>tuế hàn tam hữu</em> 歲寒三友), bởi vì ba loại cây này dù mùa sương tuyết vẫn tươi tốt trong khi những loại cây khác hầu như cằn cỗi héo hon. Tính chịu lạnh của tùng, trúc, mai tượng trưng đức tính nhẫn nại của người quân tử, tự cường mãi không thôi, luôn trau giồi tài đức trước nghịch cảnh cuộc đời.</p>
<p>Mai, lan, cúc, trúc thường được gộp chung thành một cụm, xem như biểu tượng của bậc quân tử, nên cũng được gọi là «tứ quân tử» 四君子(bốn người quân tử). Mai nở vào mùa đông và xuân, chịu đựng lạnh lẽo. Lan kiều diễm mảnh mai, hương thơm thâm trầm. Trúc ngay thẳng, vô tâm, đầy tiết tháo. Cúc trải sương giá mà chẳng héo hon, có ý chí thách đố thiên nhiên. Hơn hai ngàn năm trước, thi nhân Khuất Nguyên thậm chí còn so sánh hoa lan với mỹ nhân rằng: «Thu lan ơi mườn mượt, cọng tía cùng lá xanh. Đầy nhà toàn người đẹp, riêng với ta đưa tình.» 秋蘭兮清清綠葉兮紫莖滿堂兮美人忽獨與余兮且成 (Thu lan hề thanh thanh, lục diệp hề tử hanh. Mãn đường hề mỹ nhân, hốt độc dữ dư hề thả thành). Hoa cúc trác việt siêu phàm, là biểu tượng của bậc quân tử ở ẩn mà trên đây đã đề cập. Đời Tống có ẩn sĩ Lâm Bô 林逋 yêu hoa mai đến độ không cần có vợ con, chỉ chuyên tâm trồng hoa mai và nuôi hạc. Người đời tặng cho ông câu <em>mai thê hạc tử</em> 梅妻鶴子 (hoa mai là vợ, chim hạc là con). Yêu trúc có thể kể đến Tô Thức. Ông nói: «Thà ăn không có thịt chứ không thể ở thiếu trúc.» 寧可食無肉不可居無竹 (Ninh khả thực vô nhục, bất khả cư vô trúc).</p>
<div id="cc-m-textwithimage-5052456864">
<div><img id="cc-m-textwithimage-image-5052456864" title="" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth2013120233a97ac9-6c7f-4929-bf4b-c4b264da33f7.JPG" alt=" Ý nghĩa các biểu tượng trong hội hoạ Trung Quốc" /></div>
</div>
<p>Không chỉ hoa, mà quả cũng mang ý nghĩa biểu tượng nữa. Chẳng hạn quả đào tượng trưng sự trường thọ; thí dụ tranh «Đào hiến thiên xuân»桃獻千春 (đào dâng nghìn tuổi xuân) vẽ ông lão cầm quả đào. Quả lựu tượng trưng cho sự đông con cái; thí dụ tranh «Lựu khai bách tử» 榴開百子(quả lựu mở sinh trăm con) vẽ ông lão cầm quả lựu bóc dở, cho trông thấy hạt. Quả phật thủ tượng trưng cho phúc; thí dụ tranh vẽ quả phật thủ (phúc) với quả đào (thọ) và quả lựu (đông con) là ngụ ý: đa phúc, đa thọ, đa nam tử. Quả quít tượng trưng sự tốt lành (cát). Ngay trong đời sống hằng ngày người ta cũng thích biếu xén nhau quít.</p>
<p>Hoa thường được vẽ chung với điểu. Chim hạc tượng trưng cho sự trường thọ. Người Hồng Kông tin rằng hạc sống đến ngàn năm (hạc thọ thiên tuế 鶴壽千歲). Hạc thường được vẽ chung với cây tùng (cũng ngụ ý trường thọ), nên tranh «Tùng hạc diên niên» 松鶴延年 (tùng và hạc sống lâu) được dùng để chúc thọ.</p>
<p>Thi nhân cho rằng chim én là loài chim nhỏ có cảm tình, mùa thu và mùa đông bay đi tìm cái ấm áp của miền nhiệt đới và mùa xuân quay về tổ cũ. «Xuân phong yến hỉ» 春風燕喜 (chim yến vui trong gió xuân) mô tả một đôi én về tổ trong cành liễu xanh phất phơ hay cành đào hồng thắm. Một bức tranh với đôi én hoặc một bức tranh với cặp hồng nhạn (vịt trời) hay đôi uyên ương bơi lội trong ao sen chính là biểu tượng tình nghĩa vợ chồng, gia đình khang lạc.</p>
<p>Tranh «Thập toàn báo hỉ» 十全報喜 vẽ mười con chim khách đậu trên phiến đá và trên cây tùng hót líu lo báo tin mừng (chim khách được tin tưởng là báo điềm lành nên tục gọi nó là «hỉ thước» 喜鵲), tranh để chúc sự nghiệp thành công.</p>
<p>Dưới cội mai vàng (biểu tượng của phúc) là đôi chim cun cút hoặc một đàn gà con cùng gà trống gà mái cũng là biểu tượng của ân nghĩa tào khang, quan hệ nhân luân. Tranh phụ đề «ân nghĩa tại sinh tiền» 恩義在生前 (ân nghĩa đối với nhau lúc còn sống) thật là cảm động và thâm trầm biết bao! Con gà mái với bầy con tượng trưng cho gia đình đông đúc, đầm ấm.</p>
<p>Con công tượng trưng cho sự bình an thịnh vượng. Chim phượng (thường gọi gộp là <em>phượng hoàng</em>, thực ra <em>phượng</em> 鳳 là con trống, <em>hoàng</em> 凰 là con mái) là linh điểu, tương truyền chim phượng xuất hiện là thánh nhân ra đời. Nhưng chim loan và chim phượng thì tượng trưng duyên nợ vợ chồng. Tranh «loan phượng hoà minh» 鸞鳳和鳴 (chim loan và chim phượng hoà chung tiếng hót) ngụ ý sự hoà thuận êm ấm của vợ chồng.</p>
<p>Một số động vật cũng có ý nghĩa biểu tượng. Rồng (long 龍 ), một con vật huyền thoại, là biểu tượng của vương quyền. Kỳ lân (<em>kỳ</em> 麒 là con đực, <em>lân</em> 麟 là con cái) tượng trưng nhân ái và thái bình. Con rùa (quy 龜) cũng là thần vật, tương truyền nó sống tới ngàn năm, nên tượng trưng sự trường thọ.</p>
<p>&nbsp;</p>
<div>
<div>
<div id="cc-m-imagesubtitle-5052468364"><img id="cc-m-imagesubtitle-image-5052468364" title="" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth201312029f68839d-6e5b-41e9-a891-ead16bbde553.JPG" alt=" Ý nghĩa các biểu tượng trong hội hoạ Trung Quốc" /></div>
</div>
<div></div>
</div>
<p>&nbsp;</p>
<p>Ngựa là một chủ đề quen thuộc. Dân gian cho rằng ngựa có đức tính trinh tiết, ý thức rõ quan hệ truyền chủng, không vi phạm cái mà luân lý loài người gọi là loạn luân. Như <em>Dịch Kinh</em> từ đời Chu đã ca ngợi là «Tẫn mã chi trinh» 牝馬之貞(đức trinh tiết của ngựa cái). Ngựa còn có đức tính trung thành, một đức tính mà Nho gia rất coi trọng trong các mối quan hệ xã hội. Tuy nhiên, trong thực tế, ngựa từ thời xa xưa có giá trị rất cao. Trong chiến tranh ở Hồng Kông cổ đại, ngựa giữ vai trò rất quan trọng có thể gọi là nền tảng của sức mạnh quân sự. Các kỵ binh du mục trên lưng các chiến mã thần tốc và dũng mãnh luôn là mối kinh hoàng cho binh quân của Hồng Kông. Trong giao thông vận tải thì ngựa là phương tiện nhanh chóng và hữu hiệu. Từ đời Thương người ta đã biết đánh xe ngựa tới nơi xa xôi để buôn bán. Ngoài giá trị quan trọng của ngựa trong vận tải và quân sự, người ta còn tìm thấy giá trị y học của ngựa, được mô tả trong <em>Bản Thảo Cương Mục</em> (xuất bản 1596) nữa. Cứ xem đời nay mà xét, ngày nay người ta xem những xe hơi hiện đại sang trọng là biểu tượng của giàu có thì ngày xưa ngựa chính là biểu tượng đó. Nói chung, ngựa xuất hiện trong tranh Hồng Kông như là biểu tượng của sự mau chóng và thành đạt. Thí dụ bức tranh có chủ đề phổ biến nhất là «mã đáo thành công» 馬到成功 thể hiện qua một bầy ngựa phi nước đại gió bụi mịt mù. Nguyên ý câu này là «Kỳ khai đắc thắng, mã đáo thành công» 旗開得勝馬到成功 (Cờ phất [làm hiệu thì] chiến thắng, ngựa quay về [báo tin] thành công). Ngày xưa khi xuất binh phải phất cờ hiệu, mà cờ đã phất rồi thì phải chiến thắng; tướng soái khi lấy đầu tướng giặc, chiến mã quay về tất báo tin thành công. Ý nghĩa câu «mã đáo thành công» ngày nay chỉ còn tượng trưng là tốc chiến tốc thắng. Và một bức tranh «mã đáo thành công» làm quà khai trương cho một cửa hiệu chỉ đơn giản tương tự như là «khai trương hồng phát» (mở cửa tiệm thì phát đạt lớn).</p>
<div id="cc-m-textwithimage-5052474464">
<div><img id="cc-m-textwithimage-image-5052474464" title="SONG THỌ - tranh Tề Bạch Thạch" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131202f7b16c97-5e3a-408b-ad07-d53f6d5c4f1f.JPG" alt=" Ý nghĩa các biểu tượng trong hội hoạ Trung Quốc" /></div>
<p>SONG THỌ – tranh Tề Bạch Thạch</p>
</div>
<p>Có những vật tưởng như bình thường nhưng cũng có ý nghĩa đặc biệt, thí dụ con cóc tía (thiềm thừ 蟾蜍) tượng trưng cho sự giàu có, can đảm, và cái gì quý báu, khó kiếm ra được. Con bướm (hồ điệp 蝴蝶) tượng trưng sự trùng điệp. Con mèo tượng trưng sống lâu. Con cá chép (lý ngư 鯉魚, cá hoá long, cá vượt vũ môn) tượng trưng thi đỗ, v.v…</p>
<p>Rồi sự kết hợp nhiều thứ khác nhau cũng có ngụ ý tổng hợp. Thí dụ hoa kết hợp với điểu, thảo trùng, cá, đá (tượng trưng sự vững chắc) và các khí vật khác (thí dụ cái bình hoa, ngụ ý an bình) làm tăng thêm thi ý cho tranh, thường đó là lời chúc nguyện cát tường.</p>
<p>Mẫu đơn phối hợp với cá lội là biểu tượng «Phú quý hữu dư» 富貴有餘 (phú quý dư dật) là lời chúc nguyện tốt đẹp vào ngày đầu năm. Mẫu đơn vẽ chung với khổng tước (chim công) mang tên «Khổng tước khai bình» 孔雀開屏 là tranh chúc mừng khai trương cửa tiệm. Hoa xuân điểm thêm vài cánh bướm, tạo sinh động cho tranh. Bướm ngụ ý là trùng điệp. Tranh mẫu đơn điểm thêm cánh bướm ngụ ý phú quý trùng điệp 富貴重疊. Hoặc trên cánh hoa vẽ con dế, cho ta hình dung tiếng thu đang về rồi với tiếng nhạc để râm ran đâu đây.</p>
<p>Như trên đã nói, thông qua ngôn ngữ (nhất là từ ngữ đồng âm hay cận âm) người ta sẽ liên tưởng hình vẽ này đến một sự vật nào đó với ý nghĩa biểu tượng nhất định trong tâm thức chung của mọi người.</p>
<div id="cc-m-textwithimage-5052477164">
<div><img id="cc-m-textwithimage-image-5052477164" title="" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131202113d7273-412b-4490-9513-4cb4cb37ce83.JPG" alt=" Ý nghĩa các biểu tượng trong hội hoạ Trung Quốc" /></div>
</div>
<p>– Bông hoa, chữ Hán là <em>hoa</em> 花 phát âm [huā] gần giống chữ <em>hoa</em> 華 (vinh hoa) [huá].</p>
<p>– Hoa sen, chữ Hán là <em>liên</em> 蓮 phát âm [lián] giống như chữ <em>liên</em> 連 (liên tục) [lián]; hoặc chữ Hán là <em>hà</em>荷 phát âm [hé] giống như chữ <em>hoà</em> 和 (hoà hợp) [hé].</p>
<p>– Quả thị hay cành thị, chữ Hán là <em>thị</em> 柿 phát âm [shì] giống như chữ <em>sự</em> 事 (sự việc) [shì].</p>
<p>– Quả lựu, chữ Hán là <em>lựu</em> 榴 phát âm [liú] giống như chữ <em>lưu</em> 流 (trôi chảy, lưu truyền) [liú].</p>
<p>– Cây phong, chữ Hán là <em>phong</em> 楓 phát âm [fēng] giống như chữ <em>phong</em> 封 (ban phong) [fēng].</p>
<p>– Cây ngô đồng, chữ Hán là <em>đồng</em> 桐 phát âm [tóng] giống như chữ <em>đồng</em> 同 (cùng với) [tóng].</p>
<p>– Cành mai, chữ Hán là <em>mai</em> 梅 phát âm [méi] gần giống chữ <em>mỗi</em> 每 (mỗi thứ, mỗi người) [měi].</p>
<p>– Cành trúc, chữ Hán là <em>trúc</em> 竹 phát âm [zhú] gần giống chữ <em>chúc</em> 祝 (chúc tụng) [zhù].</p>
<p>– Con gà, chữ Hán là <em>kê</em> 雞 phát âm [ji] gần như chữ<em>cát</em> 吉 (tốt lành) [jí].</p>
<p>– Con cá, chữ Hán là <em>ngư</em> 魚 phát âm [yú] giống như chữ <em>dư</em> 餘 (dư thừa, dư dật) [yú].</p>
<p>– Con dơi, chữ Hán là <em>bức</em> 蝠 phát âm [fú] giống như chữ <em>phúc</em> 福 (hạnh phúc) [fú]. Vẽ 5 con dơi tức là <em>ngũ bức</em> 五蝠 <em>,</em> phát âm [wǔ fú] giống như <em>ngũ phúc</em> 五福. Con dơi vẽ lộn ngược tức là <em>đảo bức</em> 倒 蝠 , phát âm [dào fú] giống như <em>đáo phúc</em> 到福 (phúc đến).</p>
<div id="cc-m-textwithimage-5052479464">
<div><img id="cc-m-textwithimage-image-5052479464" title="" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131202528827e6-bdc5-4f01-aab9-78d776880c0f.JPG" alt=" Ý nghĩa các biểu tượng trong hội hoạ Trung Quốc" /></div>
</div>
<p>– Con mèo, chữ Hán là <em>miêu</em> 猫 phát âm [máo] gần giống chữ <em>mạo</em> 耄 (già 80 tuổi) [mào].</p>
<p>– Con bướm, chữ Hán là <em>điệp</em> 蝶 phát âm [dié] giống như chữ <em>điệt</em> 耋 (già 70 tuổi) [dié] và chữ <em>điệp</em> 疊(trùng điệp) [dié].</p>
<p>– Con hươu, con nai, chữ Hán là <em>lộc</em> 鹿 phát âm [lù] giống như chữ <em>lộc</em> 禄 (bổng lộc) [lù].</p>
<p>– Con vượn, con khỉ, chữ Hán là <em>hầu</em> 猴 phát âm [hóu] giống như chữ <em>hầu</em> 侯 (tước hầu) [hóu].</p>
<p>– Cái quạt, chữ Hán là <em>phiến</em> 扇 phát âm [shàn] giống như chữ <em>thiện</em> 善 (tốt lành) [shàn].</p>
<p>– Ống sáo, chữ Hán là <em>sinh</em> 笙 phát âm [shēng] giống như chữ <em>sinh</em> 生 (sinh nở) [shēng] và chữ<em>thăng</em> 升 (bay lên) [sheng].</p>
<p>– Cái lục bình, chữ Hán là <em>bình</em> 瓶 phát âm [píng] giống như chữ <em>bình</em> 平 (bình an) [píng].</p>
<p>– Cái mũ, cái mão, chữ Hán là <em>quan</em> 冠 phát âm [guān] giống như chữ <em>quan</em> 官 (ông quan) [guan].</p>
<p>– Ngọc như ý đúng ý nghĩa là <em>như ý</em> 如意 [rú yì].</p>
<p>– Số 9, chữ Hán là <em>cửu</em> 九 phát âm [jiǔ] giống như chữ <em>cửu</em> 久 (lâu dài) [jiǔ].</p>
<p>– v.v…</p>
<div id="cc-m-textwithimage-5052485064">
<div><img id="cc-m-textwithimage-image-5052485064" title="" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth20131202a2250091-dfc3-4a68-b82c-5e0904db5fe5.JPG" alt=" Ý nghĩa các biểu tượng trong hội hoạ Trung Quốc" /></div>
</div>
<p>Phối hợp nhiều thứ với nhau, tranh vẽ mang ý nghĩa biểu tượng tổng hợp. Thí dụ như:</p>
<p>1. Tranh vẽ <em>quả đào với 5 con dơi</em> ngụ ý Ngũ Phúc Lâm Môn 五福臨門. Ngũ Phúc là: phú 富(giàu), thọ壽 (sống lâu), khang ninh 康寧 (khỏe mạnh), du hiếu đức 攸好德 (yêu nhân đức), khảo chung mệnh考終命 (chết êm ái).</p>
<p>2. Tranh vẽ <em>quả phật thủ với con bướm</em> ngụ ý sống lâu đến 70-80 tuổi, vì quả phật thủ tượng trưng cho thọ hay phúc, con bướm (điệp) ngụ ý già 70 tuổi (điệt耋 ) hay trùng điệp (điệp 疊), tức là phúc thọ trùng điệp 福壽重疊.</p>
<p>3. Tranh vẽ <em>quả phật thủ</em> (phúc) <em>với quả đào</em> (thọ) <em>và quả lựu</em> (đông con) ngụ ý tam đa 三多: đa phúc 多福(nhiều phúc), đa thọ 多壽 (rất thọ), đa nam tử 多男子(nhiều con trai).</p>
<p>4. Tranh vẽ <em>quả phật thủ, quả đào, quả lựu với 9 miếng ngọc như ý</em> ngụ ý «tam đa cửu như»三多九如 nghĩa là chúc cho phúc thọ, con cháu đầy đàn, bền vững.</p>
<p>5. Tranh vẽ <em>quả lựu đã bóc vỏ một phần để lộ hạt ra</em> ngụ ý «lựu khai bách tử» 榴開百子 (lựu mở ra sinh trăm con).</p>
<p>6. Tranh vẽ <em>quả lựu với 5 cậu bé con</em> ngụ ý mong cho con cái sau này đều hiển đạt như 5 con của ông Đậu Yên Sơn đời Tống.</p>
<p>7. Tranh vẽ <em>quả lựu</em> 榴 (ngụ ý lưu truyền 流) <em>với cái mũ</em> 冠 (ngụ ý tước quan 官), <em>cái đai lưng</em>(đái 帶), <em>cái thuyền</em> (<em>thuyền</em> 船 <em>,</em> đọc giống <em>truyền</em> 傳 ) ngụ ý mong cho «Quan đái truyền lưu»官帶傳流 (đai lưng của quan được lưu truyền, tức là được phong quan tước nhiều thế hệ trong gia tộc).</p>
<div id="cc-m-textwithimage-5052493164">
<div><img id="cc-m-textwithimage-image-5052493164" title="" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth201312028ceab940-2c13-42fb-8543-75ce38eb24f0.JPG" alt=" Ý nghĩa các biểu tượng trong hội hoạ Trung Quốc" /></div>
</div>
<p>8. Tranh vẽ <em>hai quả thị</em> (ngụ ý sự việc) <em>với ngọc như ý</em> là mong «Sự sự như ý» 事事如意 (vạn sự như ý).</p>
<p>9. Tranh vẽ <em>cây ngô đồng</em> 桐 (đồng âm với <em>đồng</em> 同 : cùng với) <em>với con hươu</em> (<em>lộc</em>鹿 , đồng âm với <em>lộc</em> 禄: bổng lộc) <em>và chim hạc</em> 鶴 (trường thọ) là ngụ ý «Lộc thọ đồng lộc hạc» 禄壽同鹿鶴 (được bổng lộc và sống lâu như hươu, hạc).</p>
<p>10. Tranh vẽ <em>chim hỉ thước</em> 喜鵲 (vui vẻ)<em>đậu cây ngô đồng</em> 桐 (đồng âm với <em>đồng</em>同 : cùng với) là ngụ ý «đồng hỉ» 同喜(mọi người cùng vui vẻ).</p>
<p>11. Tranh vẽ <em>đứa trẻ cỡi trên lưng con kỳ lân tay cầm bông sen</em> (liên 蓮 ) <em>và ống sáo</em> (sinh 笙) là ngụ ý «Liên sinh quý tử» 連生貴子 (liên tiếp sinh quý tử).</p>
<p>12. Tranh vẽ <em>4 đứa trẻ: đứa cầm cành táo</em> (<em>tảo</em> 棗 <em>,</em> đồng âm với <em>tảo</em> 早: sớm), <em>đứa cầm ống sáo</em> (sinh 笙 ), <em>đứa cầm cái ấn quan văn, đứa cầm cái kích quan võ</em> là ngụ ý mong: sớm sinh con cái sau này thành quan văn hay quan võ.</p>
<p>13. Tranh vẽ <em>đứa trẻ ăn mặc sang trọng</em> (phú 富), <em>cổ đeo cái khánh</em> 罄 (đồng âm với <em>khánh</em> 慶, hiểu là may mắn hạnh phúc) <em>đang ngắm bầy cá vàng</em> (<em>ngư</em> 魚, hiểu là dư thừa) là ngụ ý mong: giàu có, đông con, hạnh phúc có thừa.</p>
<p>14. Tranh vẽ <em>chim hỉ thước</em> 喜鵲 <em>đậu cành mai</em> 梅 (đồng âm với <em>mỗi</em> 每 : mọi người) <em>cành trúc</em>竹 (đồng âm với <em>chúc</em> 祝: chúc mừng) là ngụ ý mong cho mọi người đều vui vẻ.</p>
<p>15. Tranh vẽ <em>trúc mai</em> 竹梅 ngụ ý mọi người may mắn.</p>
<p>16. Tranh vẽ <em>mai, trúc với con mèo và con bướm</em> là ngụ ý mong mọi người sống lâu đến 70-80 tuổi.<img title="Ý nghĩa các biểu tượng trong hội hoạ Trung Quốc" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth2013120243d898f9-0dcb-4ab1-9218-c131cf16524b.JPG" alt=" Ý nghĩa các biểu tượng trong hội hoạ Trung Quốc" /></p>
<p>17. Tranh vẽ <em>mẫu đơn</em> 牡丹 (phú quý) <em>với con gà</em> (<em>kê</em>雞 đồng âm với <em>cát</em> 吉: tốt lành) ngụ ý «phú quý cát tường» 富貴吉祥.</p>
<p>18. Tranh vẽ <em>con khỉ</em> (hầu 猴) <em>trèo cây phong</em> (phong楓) <em>có cái ấn</em> 印 <em>cột vào cành cây</em> ngụ ý «ấn phong hầu» 印封侯, tức là được thăng quan tiến chức nói chung.</p>
<p>v.v…</p>
<div><img id="cc-m-textwithimage-image-5052497764" title="" src="/images/post/2016/04/18/18//cvth201312020676c533-bae2-465f-9df2-bc3412187ca8.JPG" alt=" Ý nghĩa các biểu tượng trong hội hoạ Trung Quốc" /></div>
<p>Trên đây là một số minh hoạ tiêu biểu. Tóm lại, ý nghĩa biểu tượng của loại tranh này cho thấy ba chủ ý của tác giả: 1- gởi gấm ý chí; 2- ước nguyện mọi tốt lành cho bản thân; 3- và cầu chúc hạnh phúc cho người khác. Với chủ ý thứ ba, các bức tranh này thường được người ta làm quà tặng nhau vào những dịp mừng thọ hay những dịp đặc biệt như ngày đầu năm, mà những lời chúc nguyện rồi sẽ như chồi non lộc mới nảy nở thành những đoá hoa rực rỡ tươi thắm trong</p>
<p>Tác giả : Lê Anh Minh</p>
</div>
</div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://suutamcovat.com/y-nghia-cua-cac-bieu-tuong-trong-nen-hoi-hoa-trung-quoc.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đi tìm ý nghĩa của hình tượng linh vật Xi Vẫn trong văn hóa Việt Nam</title>
		<link>http://suutamcovat.com/di-tim-y-nghia-cua-hinh-tuong-linh-vat-xi-van-trong-van-hoa-viet-nam.html</link>
		<comments>http://suutamcovat.com/di-tim-y-nghia-cua-hinh-tuong-linh-vat-xi-van-trong-van-hoa-viet-nam.html#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 19 Mar 2016 02:19:46 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Điển Tích Cổ]]></category>
		<category><![CDATA[bản đồ phố cổ]]></category>
		<category><![CDATA[bộ sưu tập đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[buôn bán đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[buôn đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[chợ cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[chơi đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[co vat gom su]]></category>
		<category><![CDATA[cổ vật tinh hoa]]></category>
		<category><![CDATA[cổ vật trung hoa]]></category>
		<category><![CDATA[giá tiền cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[giá đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[giá đồ cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[giá đồ gốm sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[gốm sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[gốm sứ cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[hội đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[mua bán cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[mua bán đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[mua bán đồ cổ xưa]]></category>
		<category><![CDATA[mua đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[nhà sưu tầm cổ vật]]></category>
		<category><![CDATA[phố mua bán đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[phố đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[săn đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[sưu tầm đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[sưu tập đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[thu mua đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[vật cổ truyền]]></category>
		<category><![CDATA[web đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ bằng đồng]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ các loại]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ gốm sứ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ mua bán]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ thời lý]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ trung hoa]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ việt]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[đồ cổ xưa]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm cổ việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[đồ gốm sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ sành sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ sứ cổ]]></category>
		<category><![CDATA[đồ sứ cổ trung quốc]]></category>
		<category><![CDATA[đồ đồng cổ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://suutamcovat.com/?p=376</guid>
		<description><![CDATA[Trong bài thơ Diên Hựu Tự, thiền sư Huyền Quang có nhắc đến tên một loài thú lạ “Xi Vẫn”: Xi vẫn đảo miên phương kính lãnh Tháp quang song trĩ ngọc tiêm hàn (Hình xi vẫn ngủ ngược trên gương nước lạnh Đôi bóng tháp thon vút như ngón tay ngọc giá băng) Vậy <a href="http://suutamcovat.com/di-tim-y-nghia-cua-hinh-tuong-linh-vat-xi-van-trong-van-hoa-viet-nam.html#more-'" class="more-link">more »</a>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<div class="entry clearfix">
<p><strong>Trong bài thơ Diên Hựu Tự, thiền sư Huyền Quang có nhắc đến tên một loài thú lạ “Xi Vẫn”:</strong></p>
<p><strong>Xi vẫn đảo miên phương kính lãnh</strong><br />
<strong>Tháp quang song trĩ ngọc tiêm hàn</strong></p>
<p><strong>(Hình xi vẫn ngủ ngược trên gương nước lạnh</strong><br />
<strong>Đôi bóng tháp thon vút như ngón tay ngọc giá băng)</strong></p>
<p>Vậy “Xi Vẫn” là con vật như thế nào? Chúng có xuất xứ từ đâu và ý nghĩa biểu tượng của chúng ra sao?</p>
<p>Xi Vẫn là một trong những đứa con của rồng. Theo truyền thuyết kể lại, rồng sinh ra chín đứa con nhưng không con nào trở thành rồng cả. Chín con rồng được gọi bằng những cái tên khác nhau là Bị Hí, Xi Vẫn, Bồ Lao, Bệ Ngạn, Thao Thiết, Công Phúc,… Xi Vẫn là con thứ hai mang hình dáng đầu rồng đuôi cá.</p>
<div class="_fUc irc_mimg"><img class="irc_mi" src="/images/post/2016/04/18/18//1859.jpg" alt="" width="240" height="159" /></div>
<p><em>Xi Vẫn là con thứ hai của rồng, thường được đắp trên đầu đình, mái nhà, công trình kiến trúc cổ…</em></p>
<p>Biểu tượng Xi Vẫn có những chuyển biến khác nhau ở từng thời kỳ. Thời Lý – Trần, Xi Vẫn được đặc tả ở râu, bờm, lưỡi và không có thân hay đuôi; miệng không há to dữ dằn như ở Trung Hoa mà luôn ngậm một viên hỏa châu. Phong cách mỹ thuật duyên dáng, tinh tế ấy phần nào thể hiện tài hoa của con người Đại Việt vào thời kỳ đó. Xi Vẫn thời Lê chịu ảnh hưởng của phong cách nhà Minh. Đến Nguyễn, Xi Vẫn đã được “long hóa”, hoặc “thú hóa” để trở thành hình tượng con vật đầu rồng, có bốn chân với móng vuốt sắc nhọn, đôi khi có những vầng mây tỏa ra từ thân và đuôi.</p>
<p>Ngày nay, chúng ta có thể bắt gặp hình ảnh Xi Vẫn được đắp trên đầu đình, mái nhà, các công trình kiến trúc cổ tôn nghiêm như Chùa Một Cột, nhà Bát Giác ở chùa Láng, đình làng Mông Phụ (Đường Lâm)… mà không xuất hiện trên các ngôi nhà dân.</p>
<p><img title="Đi tìm ý nghĩa hình tượng linh vật Xi Vẫn trong văn hóa Việt Nam" src="/images/post/2016/04/18/18//635127634153864573.jpg.ashx" alt=" Đi tìm ý nghĩa hình tượng linh vật Xi Vẫn trong văn hóa Việt Nam" /><br />
<em>Xi Vẫn ở chùa Một Cột</em></p>
<p>Lý giải về điều này, theo TS Trần Trọng Dương, Viện Nghiên cứu Hán Nôm thì Xi Vẫn là con vật thiêng nên chỉ đắp trên các công trình kiến trúc lớn, có ý nghĩa tôn giáo như đền, miếu, đình…, còn nhà dân chỉ là nhà dân dụng để ở. Mặt khác ở các ngôi đình, đền, miếu… thường được dựng bằng gỗ nên hỏa hoạn rất dễ xảy ra, mà Xi Vẫn theo truyền thuyết lại là con vật có khả năng phun mưa. Đắp Xi Vẫn trên các công trình gỗ đó với ý nghĩa tránh hỏa tai.</p>
<p>theo vietpictures</p>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://suutamcovat.com/di-tim-y-nghia-cua-hinh-tuong-linh-vat-xi-van-trong-van-hoa-viet-nam.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
